Chân dung
Hồ Chí Minh qua bài vè dân gian
Nguyễn Thái Hoàng
Hồ Chí Minh, thiên phiếm truyện nhiếu tập, bài 2: Chân
dung Hồ Chí Minh qua bài vè dân gian

Bác ḿnh tên cũ là Ba
Hồ là họ mới, hiệu là Chí Minh
Sinh ra trong một gia đ́nh
Nho nghèo hiếu học, bố Kinh, mẹ Mường
Lớn lên gặp buổỉ đau thương
Bác liền theo cái tàu buôn nước ngoài
Suốt ngày cọ chảo, thái khoai
Lau sàn, rửa bát, mệt nhoài... chỉn chu.
Ba Lê tuyết lạnh mùa thu
Ngồi ôm ḥn gạch mà thù thằng Tây
Xem ra khó sống nơi này
Đầu năm 41 về ngay nước ḿnh
Bác liền thành lập Việt Minh
Người nhiều súng ít, t́nh h́nh khó khăn
Ban đầu chỉ có công nhân
Về sau thấy lợi nông dân xin vào
Tiến lên giết hết đồng bào (1)
Địa điền cải cách lật nhào không tha
Bác ḿnh tên gọi là Ba...
Hồ là họ mới, hiệu là Chí Minh...
 |
Tiến lên giết hết đồng bào — Tết Mậu Thân 1968:
Theo thông cáo ngày 20/12/1968 của Bộ chỉ huy các lực lượng nhân dân
giải phóng, ta đă tiêu diệt 63 vạn tên địch (Nguồn: Phúc Thành,
Quân đội Nhân dân)
|
Bài thơ trên đây khá phổ biến trong giới trí thức cũng như giới b́nh dân tại
Việt Nam v́ nôm na dân dă, dễ hiểu, dễ nhớ đă đành, c̣n khá ấn tượng, có thể
ngồi đọc cả ngày không hết. Từ câu đầu: Bác ḿnh tên cũ là Ba... một lèo
đến câu cuối: Địa điền cải cách lật nhào không tha”, lại quay về câu đầu
theo kiểu diễn ca, không có điểm cuối, giống như bài ca dao dân gian “Con
kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào, con kiến mà leo cành đào,
leo phải cành cụt leo vào leo ra, con kiến mà leo cành đa…”.
Chỉ cần bỏ vài ngh́n đồng mua tờ báo, đánh giày hoặc ngồi lâu lâu ở vườn hoa Lư
Tử Trọng, công viên Lê Nin, trước cửa nhà một nhân vật lănh đạo, nơi tập trung
đông đủ bà con dân oan khiếu kiện, hay kể cả nhà hàng, quán xá sang trọng nào đó
là cũng có thể được nghe bài ca dao trên đây... miễn phí.
Lần đầu nghe từ miệng một cậu bé chuyên đạp xe bán bánh đa nướng, tôi ngạc nhiên
đến sững người, không rơ tác giả dân gian nào đă sáng tác ra để nó sớm trở thành
sản phẩm của đại chúng như vậy? Khi tôi đọc lại trong đám bạn hữu, người bảo: -
Lại là “của độc” của ông nhà thơ Nguyễn Duy đấy, chả phải ông ấy đă từng có viết:
“Bác Hồ nằm ở trong lăng. Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng giật ḿnh. Rằng giờ
chúng nó linh tinh...”, là ǵ? - Lại c̣n cả đoạn: “Hỏi rằng tướng Giáp đi
đâu? Dạ thưa tướng Giáp lo khâu đặt ṿng”, nữa chứ, cứ đọc là lại cười nôn
ruột.
Có người lại bảo:
- Không phải, ông Duy đâu có tính “phản động” như vậy. Cái đoạn cuối dám nhắc
đến cải cách địa điền, vạch tội cụ Hồ, bố ai dám nói. Dù 100 % dân Việt Nam đều
biết đi chăng nữa, nhưng chỉ nghe Đảng nói láo riết thành quen thôi, chứ ai mà
nói ra sự thật... th́ cuộc đời bị nhuộm đen ngay, không ngóc đầu lên nổi, có khi
phải đi cải tạo với thời hạn cao su, bởi ai lại bẽ mặt xử có án người ta chỉ v́
đọc một bài ca truyền miệng dân gian. Cho nên, chỉ có thể hiểu bài thơ này là
của nhiều tác giả, đă được “mô đi phê”, thêm thêm, bớt bớt, nhằm làm cho chân
dung Bác chúng ta hiện ra rơ nét và thêm tính hài hước, chế diễu mà thôi.
Lần thứ hai, ngồi ở quán cóc vỉa hè tôi hỏi cậu bé đánh giày:
- Sao cháu biết bài thơ này, cháu nghe ở đâu, có nhầm câu nào không?
- Cháu nghe ở nhiều nơi, chủ yếu là ở các quán ăn, nhà hàng nơi có rất nhiều
khách xịn. Trong lúc họ ăn, chúng cháu tranh thủ đánh giày, cháu nghe lỏm vài
lần rồi thuộc làu. Có điều...
- Sao cơ?
- Mỗi lần cháu nghe một khác.
- Ừ cũng có thể nó bị tam sao thất bản, thế khác như thế nào, cháu c̣n nhớ
không?
- Nhớ chứ ạ, như hôm các cô các chú ngồi trong quán bia ở Tăng Bạt Hổ (trước cửa
nhà văn hoá Thanh Niên) đọc thơ, cháu nhớ rơ đoạn cuối cùng là: “Tiến lên
chiến thắng ào ào. Cho nên ta phải tự hào Bác ta”, chứ có nhắc đến cải
cách, địa điền ǵ đâu?
Tôi cười, hỏi lại:
- Chứ không phải: “Tiến lên chiến thắng đồng bào. Bắc Nam vỡ mặt... đau nào
đau hơn”, à?
Nó ghé vào tai tôi thầm th́:
- Lần mới rồi cháu c̣n nghe mấy chú ở Sài G̣n đọc: “Tiến lên chiến sĩ, đồng
bào. Bắc Nam xúm lại... lật nhào Đảng ta...”.
Tôi đưa nó một tờ đỏ 10.000 đồng, bảo không phải trả lại, nó cười toét miệng:
- Từ hôm cháu thuộc bài thơ này, lúc nào cũng trúng lớn. Có hôm các chú c̣n cười
khà khà xoa đầu khen cháu là “thằng nhỏ phản động” rồi cho cháu hẳn tờ xanh
20.000 nữa cơ - Và nó cúi gập người ngoan ngoăn chào cả hội - Cháu cám ơn các
cô, các chú.
... Dù là do nhà thơ truyền miệng dân gian hay của đám dân oan trong lúc ăn chực
nằm chờ, màn trời chiếu đất, nhàn cư vi bất thiện làm ra, th́ tác phẩm đă rời họ
như con thuyền rời bến và trở thành sản phẩm của công chúng. Điều đáng nói ở đây
là bức chân dung của Bác thể hiện khá sinh động.
Cụ thể câu đầu: Bác ḿnh tên cũ là Ba. Đơn giản v́ Bác là anh thứ ba
trong nhà, dưới Bác c̣n một cậu em nữa, nhưng v́ mẹ chết, bố đang lang bạt mưu
sinh ở xa không về kịp, nên cậu bị khát sữa, đau ốm, suy dinh dưỡng mà phải
chuyển sang từ trần. Người miền Bắc gọi con cái theo đúng thứ tự: Cả (con đầu),
Hai, Ba, Bốn… C̣n ở miền Nam th́ gọi người con đầu là (thứ) Hai, sau đó mới đến
Ba, Tư,… Người Việt thời xưa kỵ tên tục, sợ mang tiếng xúc phạm, thiếu bặt
thiệp, thường lấy thứ tự trong gia đ́nh thay cho tên luôn. Cái Nhất h́nh
như chỉ dành cho bố mẹ.
V́ vậy khi may mắn được “theo cái tàu buôn nước ngoài” Bác liền lấy tên
Ba để khẳng định vị thế của ḿnh trong nhà.
Câu tiếp: Hồ là họ mới, hiệu là Chí Minh. Chứng tỏ tác giả dân gian rất
am hiểu về tiểu sử của Bác. Họ cũ của bác là Nguyễn. Nguyễn Sinh Cung (Coong?),
Nguyễn Tất Thành, đổi thành họ Hồ do nhiều lư do, cũng nhiều giai thoại.
Theo người dân quê Nam Đàn, Nghệ An kể cho nhà sử học Trần Quốc Vượng nghe th́
cha của Bác là con rơi của Hồ Sĩ Tạo với cô gái chủ nhà, nơi ḿnh dạy học, mang
họ Hà, tên Hy. V́ thế mới có câu: “Cử Hồ đúc cốt, đồ Nguyễn tráng men”. Sau này
khi biết rơ thân phận Bác mới lấy lại họ Hồ cho ḿnh, c̣n Chí Minh theo cách
hiểu của người Nghệ (nói lái) là “chính mi”, mi tiếng Nghệ là
mày... Nghiă là chính mi là họ Hồ chứ không phải họ Nguyễn. Lúc bấy giờ, v́ muốn
nhập nhèm đánh lận con đen, nên mẹ của Bác đă mượn cửa nhà Nguyễn Sinh Nhậm già
cả goá vợ, nghèo khó mà vào. Giờ họ của mi lại trả về cho mi. Nôm na vậy mà rất
thâm thuư.
Cái tên Hồ Chí Minh cũng làm người ta gợi nhớ đến một giai đoạn hoạt động cách
mạng đầy gian hùng của Bác trước khi kịp cướp chính quyền về tay. Đó là thời
gian Bác lang thang bên Tàu. Người ta nói rằng Bác đă chiếm tên Hồ Chí Minh của
ông Hồ Học Lăm (một nhà ái quốc lừng danh lưu vong sang Tàu) cùng toàn bộ tổ
chức “Việt Nam cách mạng đồng minh hội” do ông phụ trách.
Khi con gái ông Lăm phát hiện ra, làm ầm ĩ trước cửa Phủ Chủ tịch (Hà Nội) vào
năm 1946, th́ không biết Bác đă sai bảo ra sao mà trên đường bà này về thăm quê
ở Thanh Hoá đă bị thủ tiêu bí mật.
Cũng như sau này, khi Bác gian díu với cô Nguyễn thị Xuân, có con trai là Nguyễn
Tất Trung, nhiều nhân chứng cho hay rằng, biết cô Xuân có ư muốn ra làm vợ công
khai, Bác cũng đă cho người thủ tiêu để bảo vệ h́nh ảnh “Cha Già dân tộc”, không
vợ con, gia đ́nh, cả đời chỉ phụng sự cho Tổ quốc. Có lẽ phương thức của đảng
cộng sản: Giết một người để triệu người... suy tôn, không sai một chút nào.
Hai câu tiếp theo:
Sinh ra trong một gia đ́nh
Nhà nho hiếu học, bố Kinh, mẹ Mường
Thực ra, câu này có lẽ phải sửa từ hiếu học thành thất học th́
đúng hơn, v́ chỉ có sách báo của Đảng mới ca ngợi Bác chăm chỉ, thông minh, c̣n
ngoài đời ai cũng biết Bác nằm trong diện thường thường bậc trung, “khinh học”
như đặc điểm chung của tất cả các tầng lớp lănh đạo Việt Nam khi đó.
Khi cha của Bác được bổ làm quan ở Huế (sau khi đỗ phó bảng 1901), 11 tuổi Bác
mới được vào học lớp đồng ấu của trường Pháp-Việt Đông Ba. 17 tuổi tốt nghiệp
tiểu học cũng là lúc bố của Bác thà chán sống chứ không chán rượu, nên Tất Thành
đương nhiên phải trở thành thất bại, thất thế...
Rời khỏi trường quốc học, bao nhiêu chữ nghiă rơi táo tác dọc đường hết cả. Trở
về quê nội th́ xa hun hút, những cơn đói, lạnh đến run người từ năm nảo năm nào
vẫn c̣n ám ảnh măi trong tâm trí từ suốt thời thơ ấu cho đến khi mẹ ốm và mất
(1901) nên Bác đành cắm đầu đi tiếp.
Đến Phan Thiết, đói quá phải dừng lại rao bán mớ chữ vừa học cho bọn trẻ con các
chủ vựa cá mới phất. 18 tuổi Bác mới mon men vào được cửa trường trung học cơ
sở, tương đương lớp 5 ngày nay, vừa kịp đọc thông viết thạo chữ quốc ngữ, thuộc
4 phép tính nhân, chia, cộng, trừ trong phạm vi cho tới con số 100 th́ bị đuổi.
Thế th́ sao mà gọi là hiếu học? Khen Bác Hồ hiếu học cũng giống như khen Bác v́
nước quên thân, v́ nhân dân mà không cần vợ vậy!
 |
Nhà dân tộc Mường, cũng là nhà sàn nhưng không đẹp
bằng nhà sàn của Bác ở Hà Nội
|
Câu này c̣n thêm một tia sáng soi dọi vào tiểu sử Bác. Mẹ Bác, bà Hoàng Thị Loan
là người Mường. Một trong bốn ḍng họ nổi tiếng của người Mường là Đinh, Quách,
Bạch, Hoàng. Đúng là rau nào sâu ấy, bố là con sâu ăn lá dâu của người Mường,
nên con cũng là thứ sâu chỉ thích nghiền gái thổ mừ, từ Nông thị Ngát, Nguyễn
(Nông?) Thị Xuân và nghe đâu c̣n rất nhiều “Nông Thị” khác trong suốt
giai đoạn hoạt động “Kách Mệnh” từ năm 1941 đến 1954. V́ thế, sau ngày về Thủ Đô
lên ngôi, Bác bắt người ta dựng nhà sàn để ở theo kiểu của người Mường, làm toàn
bằng gỗ quư, giữa Ba đ́nh lộng lẫy cờ hoa, bao la nắng gió, ngày ngày thượng
ngoạn vườn cây, ao cá, hoa tươi, ong bướm đi về, cho Người nguôi nỗi nhớ đất…
Mường. (Chứ không phải trồng cây vú sữa để nhớ đồng bào Nam Bộ như báo Đảng vẫn
tuyên truyền đâu). Ở Việt Nam hiện nay, “sống và học tập theo gương Bác Hồ vĩ
đại”, không ít nhà tư bản đỏ cũng có mốt sống trong cảnh điền viên với nhà
sàn sang trọng trị giá nhiều tỷ bạc ngay giữa nội thành Hà Nội.
Dừng lại ở Phan Thiết ít lâu, mục đích t́m cha chưa thực hiện được (do cha uống
rượu làm chết người rồi lại tiếp tục đánh người nhưng chưa chết) nên bị chính
phủ Đại Pháp băi chức, lột mũ ô sa, ra khỏi triều đ́nh. Xấu hổ không dám về quê
gặp lại người làng, ông liền bỏ đi biệt, mặc đàn con tự do lấm láp, tự lo mặc,
tự lo ăn, tự lo lớn như củ khoai củ sắn, con lợn, con gà ngoài vườn.
Nghĩa là ngay từ khi ấy ngài phó bảng đă nêu cao khẩu hiệu: “Không có ǵ quư
hơn độc lập, tự... lo, để trở thành một tư tưởng lớn, xuyên suốt “thời đại
Hồ Chí Minh” sau này: Không có ǵ...
Thời gian từ lúc Bác oe oe khóc ở cơi trần (1890) đến khi vào Sài G̣n, làm bồi
trên tàu buôn của Pháp (1911) chính là “buổi đau thương” mà câu thơ trong bài
muốn nói:
Lớn lên gặp buổi đau thương
Bác liền theo cái tàu buôn nước ngoài
Để miêu tả kỹ lưỡng hơn công việc của Bác trên cái tàu buôn nước ngoài, 4 câu
sau viết:
Suốt ngày cọ chảo, thái khoai
Lau sàn, rửa bát, mệt nhoài... chỉn chu
Ba Lê tuyết lạnh mùa thu
Ngồi ôm ḥn gạch mà thù thằng Tây
Tiết đoạn này chính “nhà văn bịa vĩ đại” Trần Dân Tiên đă nói rơ trong cuộc đời
cách mạng của Hồ Chủ Tịch.
Từ 4 giờ sáng đến tận đêm khuya, suốt ngày Bác bị người ta sai bảo: - Ba lấy
nước đi; Ba nhóm bếp đi. Rồi: Ba bỏ thêm than, Ba cọ nồi, v.v... đến
mức mệt nhoài mới thôi. Vậy mà, theo Trần Dân Tiên ca ngợi, anh Lê văn Ba khi đó
vẫn tranh thủ học thêm ngoại ngữ Anh, Pháp cùng tiếng quốc ngữ để bày cho các
bạn bồi tàu đồng nghiệp người Việt cùng học theo. Thật đúng là tấm gương về
sự... háo học, cũng giống với sự háo sắc, háo đàn bà, háo tiền tài danh vọng
chức quyền của Bác vậy.
 |
Bác “Ngồi ôm ḥn gạch mà thù thằng Tây” trong một
cái cḥi sau chung cư số 9, ở ngơ cụt Compoint, Quận 17, Paris — Ảnh:
BBC Vietnamese
|
Kinh thành Ba Lê mùa đông rét mướt, số tiền công ít ỏi đến nỗi Bác phải ở trong
những căn pḥng trọ rẻ tiền, không ḷ sưởi, v́ thế mỗi sáng đến làm Bác đều để
bốn viên gạch trong ḷ, trước khi về nhà trọ nhấc ra, bọc vào trong báo, cho
gạch xuống dưới chiếu để sưởi ấm pḥng, ấm người trong đêm dài lạnh lẽo chờ mặt
trời cách mạng bừng lên. (2)
Thời gian Bác yêu của, ghét người: “Ngồi ôm ḥn gạch mà thù thằng Tây”
không ngắn như trong bài thơ đă viết, thể hiện ở hai câu:
Xem ra khó sống nơi này
Đầu năm 41 về ngay nước ḿnh
Mà dài hẳn 30 năm từ khi theo cái tàu buôn nước ngoài rồi lênh đênh bốn biển một
con tàu, qua Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, làm nghề bồi bàn, quét tuyết, thợ ảnh,
thợ làm bánh nướng v.v.
Đến năm 1917 Bác qua Liên Xô lần thứ nhất, 1923 lần 2, làm công cho Nga Xô-Viết,
hưởng lương của Quốc tế Cộng sản, rồi sang Thái Lan, Hồng Công, Trung Quốc với
nhiệm vụ ḍ xét, nắm bắt t́nh h́nh, báo cáo cấp trên, chán chê, mê mỏi mới chịu
t́m đường về... phá nước.
Sự "phá nước" này của Bác, tức là mang chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, được
chứng minh qua lời Khrutshchev (1894-1971), cố bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản
Liên Xô: "Người dân Việt Nam đang đổ máu và hiến dâng sinh mạng ḿnh v́ lợi ích
của phong trào Cộng Sản thế giới”(3). Và bây giờ th́ mọi chuyện không c̣n
ǵ bàn căi nữa: chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa của tội ác đối với nhân loại, đă
bị nghị viện châu Âu (gồm 46 quốc gia, nơi sinh đẻ ra nó) phán quyết với đa số
phiếu tuyệt đối tại cuối tháng 01/2006 vừa qua.
Bác đặt chân lên địa đầu tổ quốc đầu năm 1941. Một thời gian sau, Mặt trận Việt
Minh ra đời và Đội Tuyên truyền Giải phóng quân Việt Nam (tiền thân của Quân đội
Nhân dân Việt Nam) gồm 34 người được thành lập. V́ thế thơ viết:
Bác liền thành lập Việt Minh
Người nhiều súng ít, t́nh h́nh khó khăn
Trong giai đoạn 30 năm này, để nắm quyền lực, Người đă từng làm những chuyện ghê
gớm nhất của một nhà chính trị gian hùng và độc ác. Nào đạo tên của nhóm Nguyễn
Ái Quốc ở Pháp để hoạt động, bán đứng nhà yêu nước Phan Bội Châu cho Pháp, lấy
tiền ăn diện, bao gái, nuôi tổ chức cách mạng non trẻ, bán luôn cả bí mật của
Việt Nam Quốc dân Đảng nhằm đẩy họ vào chỗ chết. Bác ra tay “thịt” tất cả những
ai có ư qua mặt ḿnh để giải phóng đất nước khỏi ách của thực dân, ḥng chiếm vị
trí cao nhất là chủ tịch nước, chủ tịch Đảng.
Bởi v́ đảng là của giai cấp công nhân, với khẩu hiệu công, nông liên minh, nên
có câu:
Ban đầu chỉ có công nhân
Về sau thấy lợi nông dân xin vào
Từ con số 34 người sau hơn 4 năm thành lập, đến ngày khởi nghĩa tháng tám, con
số đă lên tới cả triệu người trong đó đa phần là nông dân chân đất, mắt toét,
đói ăn, đói mặc. Từ chỗ trang bị chỉ vài khẩu súng, chủ yếu vẫn phải dùng mă
tấu, cuốc xẻng, gậy gộc... đến chỗ “tiến lên chiến thắng ào ào”, mỗi
người được trang bị một khẩu súng. Thậm chí sau khi vào trận 5,10 phút, đội h́nh
chuệch choạc, người chết như ngả rạ, nên mỗi người có đến 3, 4, 5 khẩu liền,
không đủ sức vác.
Hai câu cuối là cuộc “thủ ti cở cải” long trời lở đất mà bất cứ gia đ́nh Việt
Nam nào cũng đều là nạn nhân. Điều này miêu tả sắc nét trong tác phẩm “Thiên
đường mù” của nhà văn Dương Thu Hương. Một thiên đường mù loà chỉ có thể đẻ
ra những quái thai khát máu đồng bào, đồng chí. Người say thành tích, khát máu
đồng bào nhất không ai xa lạ chính là Bác chúng ta. Nhắc lại sự kiện đau thương
tang tóc này, nhà văn Vũ Thư Hiên - con trai cả của ông Vũ Đ́nh Huỳnh - khi ấy
là thư kư riêng của Hồ Chí Minh, viết trong cuốn “Đêm giữa ban ngày”, đại
ư:
Sau đi thị sát thực tế trở về, không thể chấp nhận được cảnh những người dân vô
tội bị chết oan uổng dưới bàn tay của Bác, không kiêng nể ǵ nữa, nên vừa đặt
chân đến bậc thềm của Phủ Chủ tịch, ông Vũ Đ́nh Huỳnh nóng gáy quát :
- Giờ này Bác c̣n ngồi hút thuốc lá được ư? Bác không thấy các đồng chí cố vấn
Trung Quốc anh em đang ra sức tắm máu đồng bào ḿnh à?
Không một chút mảy may rung động, xót thương đồng bào, Bác nạt:
- Chú Huỳnh, làm chi mà dữ như lửa vậy.
Thay v́ xuống thực địa khảo sát, chặn đứng hành động tàn ác của các cố vấn anh
em lại, Bác dùng nước lạnh để dập tắt lửa trong ḷng người thư kư già. Và khi
biết không thể dập nổi Bác liền bỏ đi nơi khác, coi như tránh voi chẳng xấu mặt
nào, mặc các con voi Trung Quốc tha hồ qươ ṿi, dậm chân dẫm nát hàng trăm ngàn
số phận dân lành, miễn ghi công Bác trong trang sử oanh liệt vẻ vang của họ là
được. (Về sau này, cả ông Vũ Đ́nh Huỳnh và ông Vũ Thư Hiên bị vào tù, ông Hồ
cũng không một lời can thiệp, dù biết rằng họ bị oan ức).
Cũng v́ thái độ trốn tránh của Bác mà trước đó cố vấn Trung Quốc đă quyết định
xử tử h́nh bà Nguyễn Thị Năm (tỉnh Thái Nguyên), một phụ nữ yêu nước nổi tiếng
v́ nền độc lập của quê hương, đất nước, đă hy sinh quyền lợi của gia đ́nh, hiến
vàng, không quản hiểm nguy che dấu, nuôi cơm cán bộ cách mạng và bà cũng là mẹ
của hai sĩ quan trong quân đội nhân dân Việt Nam...
Trong lúc ḷng dân tứ tán, xao xác, hốt hoảng, Bác vẫn b́nh chân như vại, coi
như việc dâng công, chuộc tội với các đồng chí cố vấn nước bạn là việc cần thiết
hơn, đương nhiên, nên chỉ bày tỏ thắc mắc:
- Chả lẽ không t́m địa chủ nam giới được hay sao mà ngay từ ngày đầu tiên của
chiến dịch đă bắn nữ địa chủ?
Hiểu rơ cái tâm cái t́nh của Bác vốn bao la như biển rộng, trời cao, lo cho nữ
đồng chí hơn hẳn các nam đồng chí, cố vấn bảo: Hổ đực hay hổ cái cũng đều là
hổ, đều ăn thịt người. Bắn tất.
Không cần “cố véo” một lời nào nữa. Bác ung dung trở lại Bắc bộ phủ hút thuốc lá
thơm, loại thuốc vốn phải nhập khẩu từ Anh, Pháp đắt gấp 30 lần thuốc "Tam Đảo",
"Điện Biên" do các nhà máy lớn trong nước sản xuất.
Cuối năm 1957, sau ba năm Cải cách Ruộng Đất, tàn sát nông thôn miền Bắc, ngại
ra mặt trước nhân dân, Bác sai tướng Giáp: Chú đi đi, Bác ra không tiện!
Thế là tướng Giáp vui vẻ nhận lệnh từ miệng Cha Già giải thích cho bà con, đơn
giản như phân bua tṛ tập trận, bị đánh vờ, chết giả vờ (!), trong khi hàng trăm
ngh́n người đă chết ai oán, tức tưởi dưới bàn tay những đồ tể trung thành, dốt
nát và độc ác của Bác.
Bài thơ - nếu có kết thúc như chú bé đánh giày bảo: “Tiến lên chiến thắng ào
ào. Cho nên ta phải tự hào Bác ta”, cũng chỉ là một sự giễu cợt, bôi bác, ẩn
dưới sự ca ngợi đểu Bác mà thôi. Sở dĩ nó được toàn dân chú ư v́ nhà thơ dân
gian đă sử dụng một bút pháp nhẹ nhàng pha chút khôi hài, khác hẳn những bài thơ
đạo mạo trịnh trọng lên gân lên cốt khác.
Của Xê-ra (Cesar) phải trả về cho Xê-ra, hai câu thơ của Tiên Điền Nguyễn Du
viết cho chính hậu bối của ḿnh mà nghe nói, trước khi chết ông Hồ Chí Minh đă
phải ngậm ngùi thốt lên:
Rằng con biết tội đă nhiều
Dẫu rằng sấm sét búa ŕu cũng cam
Xin trả lại cho Hồ Chí Minh tất cả tội lỗi mà ông ta đă làm cho dân nước hôm
nay. Dưới sự chăm lo, dạy dỗ của ông - “Cha Già dân tộc”, đất nước Việt Nam đă
bị cấu xé dâng cho ngoại bang, ḷng người dân Việt trong cùng một nước mà bị
phân ly, chia rẽ, hận thù ngút ngàn, truyền thống đạo đức của nền Văn hiến Đại
Việt ngàn đời chỉ trong ṿng mấy thập niên mà hoàn toàn bị băng ră, huỷ hoại.
Bác có linh thiêng hăy gọi Đảng Cộng sản Việt Nam “quang vinh” t́m đường về với
Bác. Lúc ấy tiền đồ đất nước mới có thể từ từ mà hồi sinh trở lại. Và cũng khi
ấy, những bài thơ dân gian, biểu thị ḷng uất ức và mỉa mai, lấy tiếng cười làm
vũ khí trước bạo tàn của dân đen mới thuộc về quá khứ.
Hà Nội, tháng 3 năm 2006
Chú thích:
1. Câu này nhại lại câu cuối trong bài thơ mừng Xuân Mậu Thân 1968 của Hồ
Chí Minh: Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà,
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ, Tiến lên toàn thắng ắt về ta!
2. Theo Christopher R. Vanier trong những năm 1921-1923 ông Hồ sống trong
một cái cḥi sau chung cư số 9 ở ngơ cụt Compoint, Quận 17, Paris (Nguồn: BBC
Vietnamese)
3. Trích "Nikita Khrutschev Remembers", Little Brown and Company, Boston,
1970