Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn khống chế?
Minh Vơ
Nhiều tác giả ngoại quốc cho đến đến nay hăy c̣n cho rằng ông Hồ là người ôn
ḥa “có ḷng nhân ái”, hay ít nhất không có xu hướng dùng bạo lực. Chuyện
đảng CSVN quyết dùng vơ lực “thống nhất” đất nước, đẩy nhân dân vào ḷ chiến
tranh khốc liệt gây thương vong cho hàng chục triệu người, theo những tác
giả đó, là do nhóm Lê Duẩn chủ trương, mà ông Hồ không ngăn cản được v́
thuộc thiểu số. Nói lên điều này có thể bị nhiều người đă quá hiểu ông Hồ
chế riễu là ngây thơ hoặc kết tội “làm lợi cho CS”. Nhưng v́ đây là ư kiến
của số đông tác giả CS và ngoại quốc đă được ghi lại trong nhiều pho sách
lớn, hiện nằm trong các thư viện và đại học ở Mỹ, nên thiết tưởng cũng nên
đem ra mổ xẻ để chứng minh sự thực và t́m hiểu lư do của sự sai lầm hay
xuyên tạc.
 |
Hồ Chí Minh - diễn viên
|
Trước hết hăy xét qua về tính t́nh và hành động của ông
Hồ qua nhận xét của một số người ngoại quốc có dịp gặp ông. Không chỉ có
những người Mỹ như Archimedes Patti, Charles Fenn, Gallagher hay anh chàng
John nào đó mà cả những tác giả Pháp nổi tiếng như Bernard Fall, Jean
Lacouture và Jean Sainteny... đều cho rằng Hồ Chí Minh là con người ôn nhu
“ngọt ngào”. Sự việc ông hay khóc, hay ôm hôn nhi đồng, cởi áo khoác của
ḿnh tặng một sĩ quan Pháp (*) hay lấy áo len của ḿnh cho một người
lính đứng gác với mảnh áo phong phanh trong mùa đông (**) ... cũng
được nhắc tới như biểu lộ của ḷng nhân ái.
Ngay việc ông kư hiệp định sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, việc ông giải tán đảng
CS, lập chính phủ liên hiệp với phe đối lập không cộng sản và chống cộng sản,
cũng được nhiều nhà báo và sử gia ngoại quốc coi như những bằng chứng về sự
ôn ḥa.
Thời ông c̣n sống có hai bản hiến pháp ra đời (1946 và 1959) đều không nói
đến chuyên chính vô sản và độc quyền lănh đạo của đảng CS. Nhiều người coi
đó là những bằng chứng về sự ôn ḥa của Hồ Chí Minh.
Từ lâu nhiều người đă nói đến tin Hồ Chí Minh gửi tặng Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm cành đào có đính kèm thiệp chúc Xuân vào dịp Tết Quư Măo, 1963 và một
loạt cử chỉ, hành động biểu lộ thiện chí muốn thương thuyết để giải quyết
vấn đề thống nhất trong ḥa b́nh. Khi giáo sư Francis Winters nhắc lại sự
kiện này trong cuốn Năm Con Mèo th́ cũng bị nhiều người cho là bịa đặt, hoặc
hoài nghi. Cho đến khi luật sư Lâm Lễ Trinh tường thuật trên báo chí Quận
Cam vào cuối năm 2005 về cuộc mạn đàm giữa ông và cựu đổng lư văn pḥng của
tổng Thống Diệm là ông Quách Tịnh Đức, th́ chng ta mới biết đích xác đó là
sự thực. V́ chính ông Đức đă xác nhận chuyện đó.
Nguyễn Văn Trấn, từng là một trong mấy cán bộ CS cao cấp nhất của miền Nam,
sau khi phản tỉnh đă thuật lại trong cuốn “Viết Gửi Mẹ Và Quốc Hội”
về thái độ của Hồ Chí Minh đối với Liên Xô và Bắc Kinh. Tác giả cho rằng Hồ
Chí Minh theo đường lối “sống chung ḥa b́nh” của Khrushchev, nhưng bị thiểu
số, bị Lê Đức Thọ (đàn em của Lê Duẩn) khống chế. Ông trích dẫn lời Bùi Công
Trừng tả cảnh ông Hồ chủ tŕ hội nghị trung ương lần thứ 9 ngày 11/12/1963 (chỉ
hơn một tháng sau khi tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết). Nguyên văn lời Bùi
Công Trừng nói với tác giả:
“Mày coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí
Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ tŕ hội nghị mà
mặt day ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt
sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô, đưa tay để nói, th́ thằng Thọ
lễ phép Bắc Hà: “Bác hăy để cho anh em người ta nói đă mà.”
“Tao đếm lăo Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối
cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi
thương trái ấu cũng tṛn. Khi ghét ḅ ḥn cũng méo. Và ông nói xụi lơ:
Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra mà!” (1).
Kết quả của hội nghị này là nghị quyết số 9, một nghị
quyết tối quan trọng, mở màn cho cuộc tấn công miền Nam, sau khi tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm, rồi tổng thống John F. Kennedy bị giết trong ṿng 3 tuần lễ
vào tháng trước. Hai vị tổng thống đều có chủ trương rút quân Mỹ khỏi miền
Nam VN, mặc dù lúc ấy cũng chỉ mới có 16 ngàn lính Mỹ được tăng cường từ
cuối năm 1962.
Có nhiều lư do để cho rằng cái chết bất th́nh ĺnh của hai vị tổng thống nói
trên đă khiến Trung Cộng thay đổi thái độ, thúc đẩy phe thân Trung Cộng
trong Cộng Đảng VN phải tốc chiến tốc thắng, để đặt t́nh h́nh Nam Việt Nam
trước một sự đă rồi, trước khi quân Mỹ chắc chắn sẽ đổ vào VN để Mỹ hóa cuộc
chiến tranh này, khiến Trung Cộng sẽ không có cách ǵ tránh bị lôi vào ṿng
chiến với siêu cường Mỹ. Trước kia (ngay từ tháng 7 năm 1954) Trung Cộng đă
tỏ ư không chống—mà c̣n có vẻ muốn giao hảo với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm (***)
— V́ họ biết ông Diệm không phải là người muốn Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Và
có lẽ cũng v́ muốn duy tŕ 2 nước Việt Nam ḥng tránh phải đối phó với một
VN thống nhất hùng mạnh và ương ngạnh.
Nay th́ t́nh h́nh đă khác. Với những tướng lănh chỉ biết theo lệnh Mỹ mới
lên cầm quyền, miền Nam sẽ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ trong nay mai.
Lợi dụng lúc t́nh h́nh bất ổn ra tay trước để chiếm ưu thế là thượng sách.
Người ta cho rằng đó là lư do khiến Trung cộng thay đổi chiến lược và những
tay thân Trung Cộng, có xu hướng dùng vơ lực tấn công Miền Nam chiếm ưu thế
trong đảng CSVN.
Tuy nhiên bảo rằng ông Hồ không tán thành chủ trương của Trung Cộng, chỉ v́
bị thiểu số mà tuân theo ư đồ hiếu chiến của nhóm Lê Duẩn, th́ cũng không
đúng. Muốn t́m hiểu ông Hồ có bị nhóm Lê Duẩn khống chế hay lấn át không,
tưởng cần phải xem nguồn gốc của Lê Duẩn và trường hợp ông ta được đưa lên
lănh đạo đảng.
 |
Trần Văn Giàu, Tp Hồ Chí Minh
- Nguồn: vnn.vn
|
Lê Duẩn là người miền Nam, sinh tại Triệu Phong, thuôc
tỉnh Quảng Trị liền dưới vĩ tuyến 17. Trong đệ nhị thế chiến, rồi trong
kháng chiến từ 19/12/1946 đến 20/07/1954 ông ta đă 2 lần bị tù v́ chống
Pháp, tổng cộng 10 năm tại Côn Đảo. Đến khi cách mạng tháng 8 thành công,
các đồng chí đă quên ông. Măi mấy tuần sau mới rước ông về cho giữ một chức
vụ kém quan trọng mà ông cho là bỉ mặt ông, coi thường thành tích đấu tranh
trong quá khứ của ông. V́ vậy ông có vẻ hận những kẻ như Trần Văn Giàu,
Nguyễn B́nh và cả Vơ Nguyên Giáp... Sau hiệp định Genève, Lê Duẩn t́nh
nguyện ở lại nằm vùng để duy tŕ lực lượng và tiếp tục gây rối miền Nam. Ông
được coi là người có óc tổ chức giỏi, mặc dù xuất thân từ một gia đ́nh thợ
mộc, học thức mới qua bậc tiểu học, từng làm việc bẻ ghi cho công ty đường
sắt, nhưng nhờ chịu học hỏi trong những năm tù ở Côn Đảo, nên có một kiến
thức khá sâu rộng về mặt tổ chức cách mạng. Nhờ thế, sau khi trung tướng
Nguyễn B́nh bị loại, (2) vào năm 1951, ông đă thay ông này lănh đạo
“Cục R”, là tổ chức trung ương của chi nhánh CS tại miền Nam một cách đắc
lực.
Sau khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc gây bất măn trong nhân dân và trong
nội bộ đảng, v́ có quá nhiều đồng chí bị giết oan, tổng bí thư Trường Chinh
bị ông Hồ cất chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ông Hồ sẽ cử tướng Vơ Nguyên Giáp
lên thay v́ tướng Giáp là anh hùng Điện Biên, tên tuổi vang lừng chẳng những
trong nội bộ đảng và nhân dân miền Bắc, mà trên khắp thế giới. Hơn nữa chính
ông Hồ đă phải nhờ tiếng “thơm” của VNG để xoa dịu sự căm phẫn của nhân dân,
bằng cách cử VNG đại diện đảng xin lỗi nhân dân v́ những sai lầm trong CCRĐ.
Nhưng có lẽ cũng v́ tiếng tăm đó khiến ông Hồ đắn đo, không muốn để VNG lănh
đạo đảng, sợ rằng uy tín thế lực của VNG sẽ lấn át chủ tịch đảng. V́ thế ông
Hồ đă đích thân kiêm nhiệm chức tổng bí thư đảng trong một thời gian.
Năm 1957, sau một thời gian vắn sinh hoạt tại miền Bắc, Lê Duẩn được ông Hồ
cho tạm xử lư chức tổng bí thư. Thực ra lúc ấy Lê Duẩn chưa có tiếng tăm ǵ.
Lại là người miền Nam, trong khi ban chấp hành trung ương đảng gồm đa số
người Bắc (bắc vĩ tuyến 17). Cho đến đại hội 3 vào năm 1960, Lê Duẩn với sự
giới thiệu của ông Hồ, mới được bầu vào chức bí thư thứ nhất của đảng, tương
đương với chức tổng bí thư cũ của Trường Chính. Như vậy trong khi điều hành
công việc đảng, Lê Duẩn sẽ phải dựa vào uy tín và sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh
hơn, và do vậy sẽ phải trung thành hơn. Có người cho rằng đó chính là lư do
Lê Duẩn được Hồ Chí Minh chọn. Nhưng cũng có người lại nghỉ, sở dĩ ông Hồ
chọn Lê Duẩn v́ Lê Duẩn có công và có kinh nghiệm với chiến trường và nhân
dân miền Nam. Và, nhất là Lê Duẩn là người quyết tâm thực hiện thống nhất
bằng bất cứ giá nào, kể cả cuôc chiến đẫm máu. Xem ra cả hai lư do đều có cơ
sở.
 |
Lê Duẩn và Hồ Chí Minh (1967)
- Nguồn: vnn.vn
|
Những ai thường nhắc đến chuyện ông Hồ luôn ôm ấp trong
ḷng chuyện giải phóng miền Nam, coi đó như ước nguyện cả đời ông, chắc phải
đồng ư về lư do chọn lựa này. Chính ông Hồ đả chẳng thốt ra trong lúc bệnh
nặng ở vùng Việt Bắc, trong cơn mê sảng rằng dù có phải đốt cháy hết dẫy
trường sơn, cũng phải đánh đó sao? Ông đă chẳng nhiều lần hứa với nhân dân:
dù có phải chiến đấu 5 năm hay mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa cũng
nhất quyết đánh đó sao? Và như vậy những ǵ Lê Duẩn làm có thể bảo là đi
ngược lại chủ trương đường lối của ông Hồ không?
Tuy nhiên có một sự kiện sau đây khiến phải suy nghĩ, được nhà báo Thành Tín
kể lại trong cuốn “Vietnam, la face cachée du régime” và tác giả nói
là ông có ghi âm trước nhiều nhân chứng khác. Đó là việc chính Lê Duẩn khoe
khoang, cho rằng ḿnh hơn ông Hồ. Lê Duẩn chê Hồ Chí Minh không dám chủ
trương chiến tranh, chỉ dám có ảo vọng thống nhất bằng đường lối ḥa b́nh.
Đây mời bạn đọc theo dơi lời tường thuật của Bùi Tín mà chúng tôi tạm dịch
sau đây:
“Một hôm ông ta (Lê Duẩn) khoe khoang trước những
người được chính thức cử viết tiểu sử của ông ta – trong đó có tôi – :
“Sau hiệp định Genève bác Hồ vẫn tiếp tục tin rằng tổng tuyển cử sẽ có
thể xảy ra được trên toàn quốc. Đó chỉ là ảo tưởng. Tôi nh́n sự việc
đúng hơn Bác. Tôi lập tức tiên liệu việc phải dùng tới bạo lực cách
mạng. Tôi bảo các đồng chí miền Nam hăy chôn vũ khí. Chính tôi đă bảo họ
để lại lực lượng tại miền Nam chứ đừng tập kết hết ra Bắc.” (3)
Đọc Bùi Tín th́ thấy, tuy tác giả cũng có ư nghĩ ông Hồ
đỡ hiếu sát hơn mấy đàn em, nhưng xem ra trong trường hợp này ông không tin
Lê Duẩn, v́ cho rằng Lê Duẩn hiếu danh vào hay khoe mẽ. Vả lại Lê Duẩn chỉ
dám khoe sau lưng Hồ Chí Minh. Đúng ra ông Hồ đă chết được 14 năm rồi:
Chuyện xảy ra năm 1983, chỉ c̣n 3 năm nữa đến lượt Lê Duẩn theo “bác” đi gặp
Các Mác và Lênin.
Vũ Thu Hiên th́ trưng dẫn lời của thân phụ ông là Vũ Đ́nh Huỳnh từng là
người rất thân cận của ông Hồ cho rằng ông Hồ không chủ trương dùng bạo lực.
Và c̣n muốn người ta xét ông Hồ một cách công b́nh (4). Nói về Lê
Duẩn, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày viết: Không có chiến tranh, Lê Duẩn không
c̣n là Lê Duẩn. Lê Duẩn chẳng ngần ngại chê bai Hồ Chí Minh không dám chủ
trương dùng bạo lực giải phóng miền Nam. “Bác c̣n do dự, chớ khi rời miền
Nam tui đă chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uưnh thôi, uưnh cho tới thắng
lợi cuối cùng” (5).
Tôi đă trưng dẫn Nguyễn Văn Trấn, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Cả ba người đều đă
phản tỉnh v́ chán ghét chế độ CS. Nhưng cả ba đều xem ra hăy c̣n nghĩ ông Hồ
không chủ trương bạo lực. Như vậy khỏi cần đọc các tác giả CS khác v́ họ
cũng không nói khác được. Chính v́ vậy mà những nhà khoa bảng và học giả Tây
Phương khi viết sách về Hồ Chí Minh, phần nhiều chỉ dựa vào những nhận xét
tương tự để viết. Không lạ ǵ hầu hết đều khen ông Hồ khoan ḥa, nhân ái và
không chủ trương bạo động. Vậy chuyện hiếu chiến, quyết dùng chiến tranh tàn
bạo để “thống nhất” phải là chuyện của đàn em ông Hồ đứng đầu là Lê Duẩn,
được sự trợ tá đắc lực của Lê Đức Thọ, người Bắc (Nam Định),
Với tất cả những ǵ được tŕnh bày từ đầu, xem ra lập luận trên có vẻ xác
đáng.
Nhưng mổ xẻ kỹ từng vụ việc người đọc sẽ thấy không hẳn như vậy.
Trước hết, xin nhắc lại lời ông Hồ trả lời cho ông Vũ Đ́nh Huỳnh là thân phụ
của nhà văn Vũ Thư Hiên hồi mùa thu năm 1946 tại Paris khi ông Huỳnh hỏi ông
Hồ tại sao lại có thể khóc một cách dễ dàng như vậy tại nghĩa trang Père
Lachaise. Ông Hồ trả lời: “Làm chính trị th́ phải biết cười khi cần cười,
biết khóc khi cần khóc.” Ông Hồ đă khóc rất nhiều lần. Với ông Nguyễn
Hải Thần. Trước nhân dân sau khi kư hiệp định sơ bộ 6-3-1946...Nước mắt của
nhà chính trị khác nước mắt người thường ở chỗ nó không chân thật. Nói cách
khác là một kịch cảnh. Nhưng nó lại giống hệt như thực ḷng.
Cũng tương tự như vậy, khi ông cười nói nhẹ nhàng giản dị đơn sơ có vẻ đầy
t́nh người với những Patti, Fenn, Gallagher, hay Lacouture, Bernard Fall,
Sainteny hay Wilfred Burchett, hay Danielle Fitzgerald... hay bất cứ nhà báo
nào khác, hoặc khi ông cố t́nh đi dép ăn mặc sơ sài từ ngoài vào tiếng chân
nhẹ nhàng (như lụa, chữ của Lacouture) trong khi nhà báo đang bàn luận
nghiêm túc với thủ tướng Phạn Văn Đồng về những vấn đề quan trọng. Rồi điềm
nhiên hỏi sang những vấn đề cá nhân của nhà báo tỷ dụ như chân dung của Hồ
Chí Minh do phu nhân Bernard Fall vẽ vân vân... Những cử chỉ lời nói tuy
thấy rất tự nhiên đó, thực ra đă được xếp đặt trước để gây cảm t́nh, để “đắc
nhân tâm” là điều một chính khách chuyên nghiệp đă thuôc làm ḷng và xử sự
vô cùng tự nhiên như bản tính tự nhiên. Không phải là chính khách th́ khó
nh́n ra cách giả tạo của nó. Ông Hồ hơn người ở chỗ ông giả tạo một cách rất
tự nhiên. V́ ông đă được học tập và rèn luyện rất kỹ khi bắt đầu làm điệp
viên thượng thặng cho Quốc Tế Cộng Sản (Komintern). Ông c̣n được đào luyện
hơn thế nữa. Chẳng những là điệp viên mà ông c̣n là một nhà chiến lược, am
tường cặn kẽ mọi lời dạy của lănh tụ Lênin. V́ không biết dĩ văng của ông Hồ
trong thời gian học tập và rèn luyện (trong hơn 4 năm) về nghề gián điệp
t́nh báo để hoạt động cách mạng bí mật cho nên những người Tây phương được
gặp ông đều lầm.
Về những lời dạy của sư phụ Lênin, ông Hồ đă áp dụng triệt để khi giải tán
đảng CS, kư hiệp định sơ bộ, và lập chính phủ liên hiệp.
Về 2 bản hiến pháp được ban hành trong thời gian ông Hồ c̣n sống. Đúng là
chúng không mang tính độc tài, độc đảng, chuyên chính vô sản như hai bản
hiến pháp sau này, khi ông đă chết. Nhưng như vậy không phải v́ ông dân chủ
hơn, v́ dân tộc hơn. Mà chỉ v́, theo chiến lược sách lược giai đoạn, chưa
toàn thắng th́ chưa thể công khai hóa nền chuyên chính vô sản. Hơn nữa với
CS hiến pháp chỉ là món đồ trang trí. Nó không có hiệu lực thực tế. V́ có
bao giờ họ thực ḷng áp dụng hiến pháp đâu.
Về vấn đề ông Hồ tính chuyện cùng với chính quyền miền Nam lập “liên bang
Đông Dương” và khỉ sự có những tiếp xúc sơ khởi với ông Ngô Đ́nh Nhu, th́
đây là một vấn đề khá phức tạp và c̣n nhiều bí ẩn. Không có tài liệu chính
thức nào từ phía VNDCCH cũng như từ phía Đệ Nhất Cộng Ḥa được công bố. V́
vậy không đủ dữ kiện để phán xét. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin giả thiết là
nó có thực, để bàn thêm cho vui. V́ thực ra rất nhiều người vẫn coi đó là
chuyện có thực (6).
Trước hết hăy xét về phía Bắc Việt. Ông Hồ là người Mác Xít, đồ đệ
ruột của Lênin, và từng được gọi là “kẻ theo chủ nghĩa Stalin thuần thành”,
được chính Khrushchev gọi là “tông đồ” của chủ nghĩa CS. (7) Với tư
cách đó, mục tiêu chiến lược tối hậu của đấu tranh cách mạng của ông
Hồ phải là tiêu diệt thế giới tư bản, giai cấp tư sản và các giai cấp khác,,
theo đúng chủ thuyết Mác-Xít. Nhưng mục tiêu chiến lược giai đoạn của
ông (lúc đó) có thể là đánh đổ chế độ đệ nhất Cộng Ḥa. Và trước khi đạt mục
tiêu chiến lược giai đoạn này, ông có thể áp dụng mục tiêu sách
lược giai đoạn tạm thời ḥa hoăn với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm mà ông
biết anh hai Trung Cộng đă từng có lần muốn giao hảo, thiết lập bang giao,
và anh cả Liên Xô (1957) từng có lúc đề nghị thu nhập vào Liên Hiệp Quốc, và
cũng là chính quyền được nhiều nước trên thế giới công nhận hơn chế độ của
ông Hồ, hơn nữa nó lại có ưu thế áp đảo về kinh tế.
Nếu v́ cái mục tiêu sách lược vắn hạn này mà ông Hồ tính chuyện (tạm thời)
hiệp thương th́ cũng không có ǵ lạ.
Về phía VNCH, có người như sử gia Hoàng Ngọc Thành phê b́nh ông Ngô
Đ́nh Nhu là nuôi ảo tưởng. Nhưng thực ra anh em ông Diệm đă có kinh nghiệm
với CS. Họ không lạ ǵ những mánh lới gian xảo của CS. V́ hiểu biết rơ CS
nên ông Diệm ngay từ đầu đă không bị lầm như cụ Huỳnh Thúc Kháng và các đảng
phái quốc gia khác hồi năm 1945. Ông đă dứt khoát từ chối hợp tác với Hồ Chí
Minh trong một chính phủ liên hiệp. Nhưng đó là vào lúc ông chưa có thế lực
ǵ. Hợp tác với CS sẽ bị CS chi phối hoàn toàn. C̣n bây giờ th́ khác. Cái
thế của ông hơn hẳn ông Hồ, mặc dầu do vụ Phật giáo, và áp lực của Mỹ nó đă
có phần kém mấy năm trước.
Cứ xét t́nh h́nh cả hai phía lúc ấy, chuyện đi đến hiệp thương giữa hai miền
có thể thực hiện được, và có thể có lợi cho cả hai bên. Cả hai miền sẽ giảm
áp lực của ngoại bang. Ít nhất là trong một thời gian nào đó hai bên sẽ thi
đua phát triển về mọi mặt cho đến khi một bên sẽ vượt trội lên để rồi thống
nhất đất nước theo chế độ của ḿnh. Và như vậy toàn dân sẽ được hưởng một
giai đoạn tương đối an b́nh, tránh được cuộc chiến ác liệt như nó đă diễn ra
hơn một năm sau khi anh em ông Diệm chết.
Nhưng đó là giả thiết áp lực của Liên Xô, Trung Cộng trên miền Bắc và áp lực
của Mỹ đối với miền Nam không quá mạnh để phá vỡ kế hoạch hiệp thương đó.
Trong thực tế v́ quyền lợi các nước lớn, và v́ t́nh h́nh căng thẳng giữa hai
khối Đông, Tây trên thế giới lúc ấy, đó là một chuyện rất khó thực hiện. Tuy
nhiên không phải hoàn toàn là ảo tưởng. Và hiệp thương lần này không nhất
thiết sẽ thất bại như sự liên hiệp của các đảng phái quốc gia với CS hồi năm
1945-1946. Hơn nữa đồng minh Hoa Kỳ đă dồn ông Diệm vào cái thế phải thương
lượng với miền Bắc.
Bây giờ lại xét về phía ông Hồ. Ông có thực ḷng muốn sống chung ḥa b́nh
với chính quyền miền Nam hay không? Hay đây chỉ là cái bẫy ông giăng ra để
anh em ông Diệm sa vào rồi bị giết? Trong thực tế, người Mỹ đă coi việc ông
Diệm để em ông tiếp xúc với Bắc Việt như một cái cớ để lật ông. Tuy nhiên
nhiều người vẫn cho rằng ông Hồ không cố t́nh giăng bẫy. Đó chỉ là sự rủi ro
về phía ông Diệm.
Dầu sao, có một điều chắc chắn. Đó là sách lược giai đoạn mà ông Hồ luôn áp
dụng theo các nguyên lư của chủ nghĩa Lênin. V́ ông là “tông đồ” của
chủ nghĩa đó nên tuy “ông sống và làm việc nhưng không phải ông, mà chính
Lênin sống và hoạt động trong ông” (8).
Chính v́ sống khắng khít với sư tổ như thế nên lúc nào ông cũng uyển chuyển
sẵn sàng thay đổi chiến lược sách lược đấu tranh tùy theo t́nh h́nh. Cũng
theo tinh thần đó và bối cảnh đó, ta có thể giải thích thái độ của ông trong
hội nghị trung ương 9 vào trung tuần tháng 12-1963 được Nguyễn Văn Trấn
thuật lại trong sách của ông, và chúng tôi vừa trích dẫn một lời vắn tắt của
Bùi Công Trừng. Nghe họ Bùi nói th́ tội nghiệp cho ông Hồ thật. Chủ tŕ buổi
họp mà bị anh chàng Lê Đức Thọ, cánh tay mặt của Lê Duẩn o ép, không cho
nói. Chuyện có vẻ khôi hài khó tin. Nhưng có thật. V́ chả nhẽ ông già chợ
đệm nỡ đặt điều nói dối mẹ ông. Đây là thư viết gửi mẹ... mà.
Quả t́nh sau cái chết của ông Diệm, t́nh h́nh đột biến ngoài sự chờ đợi của
ông Hồ. Nước cờ ông định đi bỗng khựng lại. Những kẻ chủ chiến từ Bắc Kinh
và từ nội bộ đảng của ông ào ào tiến lên như vũ băo. Là chủ tịch đảng, chủ
tịch nước, hơn nữa là một chính trị gia già dặn, ông chẳng khác nào người
chủ ghe đang lái con thuyền buồm bỗng thấy cảnh “trái gió cho nên phải
lộn lèo” (9). Người lái thuyền buồm phải nương theo gió, theo
ḍng nước mà điều khiển “tay lái tay lèo” là thế. Hăy cứ giả vờ như ḿnh bị
nhóm hiếu chiến áp đảo đi. V́ lúc này đây trong bụng ḿnh cũng đă thuận theo
chiều gió ấy rồi. Giơ tay mà đàn em không cho nói càng hay. V́ nếu nó để cho
nói đâm ra lại khó nói. Đó là cái khôn khéo trí trá của một chính khách xảo
quyệt, lâm lúc khó xử. Chứ với cương vị của ông, và với sự thần phục tôn thờ
của lũ đàn em chung thủy, nếu ông cương quyết dùng quyền chủ tịch, chủ tọa
hội nghị, nhất định bắt hội nghị lắng nghe, th́ bố anh chàng Lê Đức Thọ cũng
chẳng dám cản ngăn. Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Ung Văn Khiêm toàn là
những người miền Nam thẳng ruột ngựa khó mà hiểu nổi thâm ư lắt léo của ông
Hồ. Chả trách những nhà báo tây phương trẻ măng lúc ấy.
Cũng chính trong hội nghị 9, đẻ ra nghị quyết 9 sặc mùi hiếu chiến này, ông
Hồ đă “đánh lừa” cả tướng Lê Liêm. Theo Vũ Thư Hiên th́ ông Hồ đă khuyến
khích Lê Liêm phát biểu chống dùng vơ lực, và hứa ông sẽ ủng hộ. Nhưng khi
Lê Liêm phát biểu bị nhóm Lê Duẩn Lê Đức Thọ khiền, th́ chủ tịch Hồ Chí Minh
vẫn im lặng. Có phải v́ Hồ Chí Minh sợ đàn em hiếu chiến không? Hay đây là
kế hoạch dùng Lê Liêm làm con mồi để dụ những tay “phản chiến” ra mặt? Ai mà
biết được mưu sâu của “cáo già”! Cũng trong hội nghị này, trong giờ giải lao
Dương Bạch Mai, một trí thức miền Nam, có xu hướng đệ tứ, sắp đọc một tham
luận quyết liệt chống thống nhất bằng vơ lực, th́ đột tử. Căn cứ vào những
sự việc xảy ra trước và liền sau khi Dương Bạch Mai chết được Vũ Thư Hiên
thuật lại tỷ mỷ trong “Đêm Giữa Ban Ngày” th́ phải kết luận: chắc chắn ông
bị đầu độc. Nhưng ngoài ông Hồ, ai dám quyết định và hạ lệnh thi hành tội ác
đó với một ủy viên trung ương đảng, phó chủ tịch quốc hội?
Muốn xét ông Hồ có bị đàn em lấn quyền hay không, cũng cần phải xét đến
những lời ca tụng, tôn thờ của toàn thể bộ chính trị và các cây viết của
đảng dành cho ông Hồ, từ khi ông c̣n sống cho đến khi đă chết. Có ai dám
công khai nói hay viết câu nào phê b́nh Hồ Chí Minh không? Ai đă xây lăng
tốn phí để thờ Hồ Chí Minh? Ai đă đặt tên Saigon là thành phố Hồ Chí Minh?
Ai đă đưa ra tư tưởng Hồ Chí Minh? Ai đă cho sưu tập tất cả những lời nói
bài viết của Hồ Chí Minh làm thành bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” giống hệt những
bộ Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông Toàn Tập, coi như sách thánh? Nếu ông Hồ
yếu kém, không dám chỉ huy cuộc chiến xâm chiếm miền Nam, nếu ông Hồ nhu
nhược để đàn em qua mặt trong những quyết định quan trọng của đảng, liệu đàn
em có dành cho ông những vinh dự đó không? Vả lại, những vinh dự đó do chính
Lê Duẩn, trong lúc phụ tá cho Hồ Chí Minh đă chủ xướng cả đấy.
Trước khi kết thúc, để thêm chút “gia vị”, tôi xin nhắc lại câu chuyện do
nhà báo Việt Thường, từng sống nhiều thập kỷ trong chế độ miền Bắc, kể.
Theo báo Nhân Dân của đảng th́ vài tháng trước tết Mậu Thân (1968), ông Hồ
sang sân bay Gia Lâm thăm đơn vị tên lửa và không quân để động viên… Tháp
tùng ông có nhiều cán bộ cao cấp kể cả Vơ Nguyên Giáp và Tố Hữu. Câu chuyện
bên lề được Việt Thường kể sau đây, theo ông tuy không đăng trên báo nào cả,
nhưng nó lại được kể ở hầu hết các ṭa soạn báo, đài và cả ở quán cà phê,
quán bia hơi ở Hànội:
“Khi nghe tin Hồ đến thăm đơn vị, lính ngụy (10)
trong binh chủng pḥng không, không quân, vừa đi học ở Nga Xô về, ào ào
chạy ra chẳng có hàng ngũ ǵ cả. Từ tư lệnh binh chủng cho đến tụi bảo
vệ, cho đến Tố Hữu, Văn Tiến Dũng đều vây quanh Hồ để bảo vệ, trong khi
Vơ Nguyên Giáp cầm loa điện cầm tay gào lên: “Yêu cầu trật tự”, mà lính
ngụy cứ lờ đi. Hồ bèn giật lấy loa trên tay Giáp và hô: “Nghiêm”. Theo
“phản xạ lính”, tất cả đứng nghiêm. Hồ lại hô:“Tất cả xếp hàng, 5 hàng
dọc”! Bọn lính vội xếp hàng. Hồ hô tiếp “Nghiêm”! rồi lại hô “Nghỉ”; và
cuối cùng hô: “Nghiêm! Đằng sau quay! Đều bước!” Bọn lính ngụy răm rắp
làm theo. Bấy giờ Hồ cười cười quay lại bảo Giáp: “Chú là đại tướng vậy
mà không biết điều khiển lính!”
Sau khi thuật chuyện đó, tác giả hỏi: “Một tên gián điệp lăo luyện, phản
ứng rất nhanh như Hồ, ăn nói với phó thủ tướng, bộ trưởng, đại tướng như
nói với thằng nhỏ, con sen như vậy, liệu có thể là kẻ để cho Lê Duẩn
khống chế không??
Xin lưu ư bạn đọc lúc ấy là thời gian Hồ Chí Minh thường
hay sang Trung Quốc “chữa bệnh” và cũng chỉ c̣n hơn một năm nữa là “đi theo
các cụ Mác Lê”.
Nam Cali 1-3-2006
Nguồn: Việt Báo
Chú thích:
(*) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch của Trần Dân
Tiên, nhà xb Văn Học, Hànội, 2001, tr. 129.
(**) Những năm tháng không thể nào quên của Vơ Nguyên Giáp, nhà xb
quân đội nhân dân, in lần thứ 5 tại Hànội, tr 46.
(1) “Viết Gửi Mẹ Và Quốc Hội”, Nguyễn Văn Trấn, trang 328. (***)
Nhiều tài liệu đă nói đến việc thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai trong một bữa
tiệc khoản đăi các phái đoàn CS tại Genève vào tháng 7 năm 1954, đă đề nghị với
ông Ngô Đ́nh Luyện bào đệ của thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm nên mở một ṭa đại sứ tại
Bắc Kinh. Sau này ông ta lại nhắc lại đề nghị ấy với ngoại trưởng Trần Văn Đỗ.
Chính ông Ngô Đ́nh Luyện cũng đă xác nhận việc này, trong dịp ông viếng Nam Cali
vài năm trước khi ông mất.
(2) Nhiều người nghi có bàn tay Lê Duẩn trong việc tướng NB bị Pháp giết
vào năm 1951, khi ông ta bị gọi ra Bắc. Lộ tŕnh của ông đă bị một kẻ nào đó mật
báo cho Pháp.
(3) VIETNAM La face cachée du régime Editions Kergour - Paris.
1999, của Bùi Tín trang 71. Dưới cước chú, tác giả ghi là câu chuyện xảy ra vào
năm 1983, trong khi tác giả ghi âm trước sự chứng kiến của nhiều người trong đó
có cả Hoàng Tùng, ủy viên ủy ban tư tưởng của đảng, Đông Ngạc, phụ tá tổng bí
thư đảng và Nguyễn Cần.
(4) Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ, Nam Cali, 1997,
trang 228.
(5) SĐD trang 229. Trong cuốn “Thời Thắng Mỹ” của Lê Duẩn do Bút
Thép chấp bút, Lê Duẩn cũng khoe khoang hơi lớn lối và viết không đúng sự thật,
khi tự tâng bốc và làm lu mờ vai tṛ của những kẻ khác trong bộ chính trị kể cả
Hồ Chí Minh.
(6) Xin xem Ngô Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê của Minh Vơ, Thông Vũ
in lần thứ 3, 2002, trang 308-313. Và “Tâm Sự Nước Non” Ai Giết Hồ Chí Minh? tủ
sách Tiếng Quê Hương, Virginia xuất bản tháng 3 năm 2002, trang 312-314.
(7) Khrushchev Remembers Little Brown and Company, Boston, 1970,
tập I, trang 480.
(8) Nhân hai chữ “tông đồ” mà Khutshchev tặng ông Hồ, chúng tôi
liên tưởng tới lời St. Paul là đại tông đồ của chúa Giêsu Kitô: “Vivo, jam non
ego. Vivit vero in me Christus”(Tôi sống, song không phải tôi sống, mà là đấng
Kitô sống trong tôi.)
(9) Hồ Xuân Hương, thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử VN với những bài thơ
“lời thanh ư tục” vừa trào lộng, vừa thâm thúy. Trong trường hợp này xin đừng
nói lái.
(10) Việt Thường luôn dùng chữ “ngụy” để gọi CS, xin đừng lầm với chữ
ngụy mà CS gán cho người miền Nam.