Mao và Hồ
Ngô Nhân Dụng
Có thể coi Hitler và Stalin là những kiểu mẫu, proto-type, của các nhà độc
tài thuộc thế hệ đầu thế kỷ 20; một ông cực hữu, một ông cực tả. Hitler lên cầm
quyền nhờ đảng ông thắng phiếu trong một cuộc bầu cử dân chủ. Nhưng sau đó ông
biết cách huyễn hoặc quần chúng bằng thủ đoạn tuyên truyền, lần lần độc chiếm uy
quyền. Ông hành động tàn ác bất nhân, nhưng vẫn được các đảng viên tôn phục và
dân chúng nghe theo hàng chục năm. Khi dân hết tin ông th́ quá trễ. Ông Stalin
lên ngôi nhờ vận dụng guồng máy đảng Cộng Sản Liên Xô, rồi ông giết hết những
đồng chí đă ủng hộ đưa ông lên, sau cùng biến cả guồng máy đảng thành dụng cụ
thống trị của riêng ḿnh. Stalin học của Hitler cách sử dụng bộ máy tuyên truyền
để suy tôn chính họ; Hitler đánh lừa cả một nước, Stalin đánh lừa được một nửa
nhân loại.
Một văn hào, là Bernard Shaw nếu tôi nhớ không lầm, đă từng đề nghị tặng giải Nobel Ḥa B́nh cho Stalin. Hai người cùng hiếu sát, ông Hitler gây chiến tranh làm chết vài chục triệu nhân mạng, ông Stalin tập thể hóa nông nghiệp làm dân chết đói, con số lên 30 triệu, nhiều hơn số nạn nhân của Hitler. Khi Krushchev lo lắng v́ mấy triệu nông dân đang chết đói ở Ukraine, bị Stalin mắng vào mặt là quá mềm yếu. Hitler và Stalin cùng thích đóng vai “người hùng,” họ thường mặc quân phục. Nhưng họ cũng đều muốn đóng vai “cha già dân tộc.” Guồng máy tuyên truyền của họ trưng bay những h́nh ảnh nhà lănh tụ đứng giữa quần chúng, chung quanh đầy những bộ mặt tươi cười hân hoan. Họ đều biết lợi dụng những truyền thống lịch sử trong quê hương họ. Ông Hitler thích được gọi là Fuhrer, Lănh Tụ, đóng vai một Kaiser, như Hoàng Dế Wilhelm I từng thống nhất và canh tân nước Đức. Ông Stalin ngồi vào chỗ các vị Tsars, những hoàng đế độc tôn với uy lực huyền bí được dân chúng tôn thờ. Stalin có nhiều danh hiệu: Cha già dân tộc, Lương tâm của Nhân loại, Đầu máy xe lửa lịch sử, hay như ông Tố Hữu ca ngợi, “Hoan hô Stalin! Đời đời cây đại thọ!” Ông trở thành một vị thánh sống; Hồ Chí Minh khi muốn trấn áp những ư kiến trong đảng Cộng Sản Việt Nam, chỉ cần nói: “Đồng chí Stalin nói rằng...” là đủ. Ông Hồ bảo các đàn em: “Bác cháu chúng ta có thể nhầm chứ đồng chí Stalin không thể nhầm được,” thế là xong.
Hai người khác cũng biết sử dụng truyền thống văn hóa, phong tục trong nước họ để tự suy tôn thành các lănh tụ huyền bí, là Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Hai ông này không đóng vai thống chế như ông Stalin bên Nga, không mặc binh phục khi chụp h́nh như Hitler, tại sao? V́ họ biết là dân Trung Hoa và dân Việt Nam vốn trọng văn, khinh vơ. Nhất là sau những năm loạn lạc, các lănh tụ vơ biền ở Trung Quốc phần lớn là những tướng quân xuất thân thảo khấu. Đóng vai mặc binh phục không thích hợp với những dân tộc sống trong nền văn hóa Khổng Mạnh (Nhật Bản và Hàn Quốc là những ngoại lệ, trong một giai đoạn lịch sử). Ngay trong những thời loạn lạc, người dân vẫn ngưỡng mộ các ông Lă Vọng, Tôn Tẫn, Khổng Minh chứ không phải các vơ tướng cầm gươm vác giáo. Các “quân sư” cầm quạt ngồi trong trướng được nể v́ hơn các ông tướng cưỡi ngựa ngoài mặt trận. Người dân Á Đông vẫn kính trọng các nhà hiền triết, những vị “minh quân” như Trần Nhân Tông cũng viết giảng về Phật Giáo, Lê Thánh Tông thường cầm bút làm thơ và viết những điều huấn dụ day dân ăn ở theo đạo Thánh hiền. V́ vậy, cả ông Mao và ông Hồ đều làm thơ. Riêng ông Mao th́ viết ra những sách lư thuyết, cả về triết lư, chính trị lẫn binh pháp. Ông Hồ th́ khiêm tốn tự nhận là ḿnh không cần viết sách, v́ có bao nhiêu điều cần viết đă có ông Mao viết hết rồi, chỉ cần học ông Mao là đủ. Nhưng ông Hồ cũng xuất bản các tập thơ văn, gom góp các bài báo in lại, chứng tỏ ông là con cháu nhà Nho chứ không phải là người vô học. Thế hệ những người cùng tuổi Hồ Chí Minh đều được học chữ Hán và nghe day các sách của Nho gia. Cho nên, khi ông nói đến những khẩu hiệu như “cần kiệm liêm chính,” hoặc “bất hoạn quả nhi hoạn bất quân,” th́ người dân các làng các xóm hiểu ngay. Nhiều người ít học c̣n cho là chính ông là người sáng tác ra những châm ngôn chính trị đó.
Tới đây, tưởng cũng nên minh oan cho ông Hồ. Nhiều người tố cáo là ông “đạo văn,” nêu thí dụ ông đă lấy một câu của Quản Trọng nhận làm của ḿnh. Nhưng khi ông Hồ nói “kế hoạch trăm năm không ǵ bằng trồng người,” mà không nói rơ tác giả là ai, th́ điều này cũng không nên coi là ông cố ư nhận vơ. V́ có rất nhiều câu nói nổi tiếng như vậy, ai cũng biết, ít nhất là những người có học ai cũng biết, mỗi khi nói “Bách niên chi kế mạc như thụ nhân” người có học không thấy nhu cầu chú thích câu này do ai đă nói. Chẳng hạn, nếu có ai lên diễn đàn mà cao hứng khuyên người khác rằng “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân,” th́ ai cũng biết đó là lời Khổng Tử. Nêu danh Khổng Tử ra có khi bị thiên hạ chê là coi thường người nghe, cho là người ta dốt. Nay có một người khuyên các cháu, “Cái ǵ ḿnh không thích th́ đừng làm cho người khác” mà không nói tên tác giả, đó cũng là một thói quen b́nh thường, không đáng trách. Nếu có trách là trách bọn con cháu dốt nát, cứ tưởng ông bác ḿnh nghĩ ra những lời khuyên đáng giá đó.
Cả Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đều tự tạo cho ḿnh những h́nh ảnh lănh tụ xuất phát từ trong ḷng dân tộc họ, khác kiểu Stalin hay Hitler, cho nên có thể coi đó là một kiểu lănh tụ độc tài riêng trong thế giới cộng sản. Riêng Mao Trạch Đông, ông cũng có ư hướng giống ông Hussein, là so sánh ḿnh với các nhân vật lịch sử. Ông Hussein muốn trở thành người kế tục sự nghiệp của Saladin, vị lănh tụ Hồi Giáo đă đánh đuổi các đoàn Thập Tự Quân ra khỏi thánh địa Jerusalem năm 1187, nhưng Hussein chưa dám tự coi ḿnh là ngang hàng. Mao ngược lại, ông từng ví ḿnh tạo nên sự nghiệp thống nhất và cải cách nước Trung Hoa không thua Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế từ 2 ngàn năm trước; tuy nhiên ông lại coi là hai người đó c̣n kém ḿnh, v́ họ có tài vũ dũng nhưng không có vẻ văn chương. Mao thấy ḿnh đóng một lúc hai vai, hoàng đế nhà Tần và “vua không ngai” Khổng Tử. Cho nên ông viết sách triết lư Mác Xít mà lại dùng ngôn ngữ của tư tưởng Trung Quốc cổ truyền, như khi viết về Mâu Thuẫn Luận. Ông rất ham đọc sách, khi ngồi trên xe vào chính thức chiếm Bắc Kinh, ông vẫn cầm trên tay bộ Tư Trị Thông Giám, một bộ lịch sử các triều đại Trung Hoa, với đủ những thuật trị nước. Cuốn sách đỏ của ông là một thứ mô phỏng “Luận ngữ.” Ông muốn người Trung Hoa sẽ tôn thờ ông như một minh quân và như một thánh hiền. Hiện nay ở nhiều ngôi chùa tại Trung Quốc có thờ cả h́nh ông Mao! Có những tài xế taxi treo h́nh ông Mao trên xe, tin rằng như vậy sẽ được bác Mao phù hộ đỡ bị tai nạn! Bộ máy tuyên truyền cố tạo ra niềm tin đó. Chưa hết, bộ máy công an tiêu diệt tất cả những ai bị ông Mao nghi ngờ, nhất là các đồng chí như Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ.
Hồ Chí Minh không có tham vọng như Mao Trạch Đông, mặc dù ông thường ví ḿnh như kế nghiệp các vua Hùng. Ông thường nói đến “Các vua Hùng dựng nước, bác cháu ḿnh giữ nước.” Trong câu nói đó ngầm chứa một niềm tự kiêu, nối ḿnh liền tới các vị vua khai sáng ra nước Việt, mà không kể tới anh hùng các triều đại khác. Có lẽ ông không coi các vị anh hùng đời xưa có ǵ đáng phải học. Trong một bài thơ viết khi đến thăm Đền Kiếp Bạc, ông tự so sánh với Đức Trần Hưng Đạo, “Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng.” Nhưng ông lại coi là Hưng Đạo Vương c̣n thua ông, (chắc v́ chưa “giác ngộ chủ nghĩa cộng sản,”) chỉ cứu được một nước qua cơn giông tố, c̣n chính ông, Hồ Chí Minh th́ “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng.” Nhưng khi dùng hai chữ “Đại đồng,” ông Hồ cũng đánh thức một h́nh ảnh lư tưởng của các nhà Nho suốt mấy ngàn năm, c̣n nằm sâu trong tiềm thức dân Việt Nam. Khổng Tử đă mô tả thế giới đại đồng: “Đại đạo chi hành dă, thiên hạ vi công.” Ông Hồ chỉ giải thích chủ nghĩa cộng sản cũng muốn đạt mục đích “thiên hạ vi công” là tự nhiên thu hút được bao nhiêu con cháu nhà Nho. Những người thiếu hiểu biết về chủ nghĩa Cộng Sản sẽ thấy ông có vẻ như một nhà Nho đáng kính.
Saddam Hussein cũng theo con đường đó, nhưng hơi trễ. Sau khi thua trận năm 1991, Hussein mới “trở lại đạo,” bắt đầu dùng Hồi Giáo, để tấn công vào tâm lư người dân Iraq và các nước Á Rập khác. Ông bắt đầu đọc kinh Kuran trước công chúng, cũng đi lễ đền thờ Hồi Giáo, giống như ông Hồ Chí Minh đi thăm Đền Hùng (thăm, nhưng không lễ). Khi lên đài treo cổ, tay ông Hussein cầm cuốn kinh Kuran, cũng cốt chứng tỏ ông là người thừa kế Saladin. Và những lời sau cùng ông nói là câu kinh quen thuộc, “Thượng đế vĩ đại! Và Thánh Mohammed là sứ giả tiên tri của Ngài!” Người có mặt cho biết đúng lúc ông phát âm tên Thánh Mohammed th́ thân thể ông bị rớt xuống, dây thắt lại nghẹn lời. Thế nào những đồ đệ của ông cũng coi đó là một điềm lạ, điềm cho thấy ông đi lên thẳng thiên đường, thành một vị thánh.
Ông Hồ Chí Minh lúc lâm chung không để lại những “điềm lạ” như vậy. Có một
điều đặc biệt, là trước khi chết ông Hồ Chí Minh lại chỉ nói rằng ông sắp đi gặp
các ông Mác, Lê nin, mà không đóng tṛ nói ḿnh sẽ về gặp các vua Hùng. Bài di
chúc của ông được viết đi viết lại nhiều lần, cho thấy tác giả đă suy nghĩ rất
kỹ. Có lẽ khi biết ḿnh sắp chết, Hồ Chí Minh vẫn coi sự nghiệp lớn nhất trong
đời ông là phát triển chủ nghĩa cộng sản trên thế giới, góp phần vào việc bành
trướng chủ nghĩa đó ở Việt Nam và Á Châu. Tức là vẫn ước mong ḿnh “dẫn năm châu
tới đại đồng,” chứ không chịu giam ḿnh chỉ làm người hùng trong một quốc gia
nhỏ như nước Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng