Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đ́nh là chuyện b́nh thường. Hồ Chí
Minh là một con người như mọi người. Do đó, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ th́ không
có ǵ đáng nói. Tuy nhiên, bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt
Nam (CSVN) luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ
đất nước nên không có thời giờ lập gia đ́nh, và không có vợ con. Sự thật
không phải như thế. Tài liệu cho thấy rằng ít nhất ông Hồ đă bốn lần lấy vợ.
1. Tăng Tuyết Minh, ngượi vợ đầu
 |
Tăng Tuyết Minh: thời xuân sắc và lúc tuổi già
ṃn mỏi đợi chờ (với ảnh vẫn trên tường)
Nguồn: dprk-cn.com
|
Tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc, tên của ông Hồ thời mới qua Liên Xô, rời
Moscow đi Vladivostok (Hải Sâm Uy), hải cảng cực đông Liên Xô, trên bờ biển
Thái B́nh Dương. Từ đây, ông đáp tàu thủy, xuống tới Quảng Châu khoảng giữa
tháng 11-1924, với bí danh Lư Thụy, một công dân Trung Hoa, làm thư kư kiêm
thông ngôn trong phái đoàn cố vấn Borodine (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn
Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở
Trung Hoa.
Trong thời gian sống tại Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lư
Thụy (Nguyễn Ái Quốc), Uỷ viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS),
đă kết hôn với một nữ đảng viên CSTH là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) ngày
18-10-1926. Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái B́nh ở trung tâm thành phố
Quảng Châu với sự hiện diện của các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai),
Bào La Đ́nh, Thái Sướng. Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng
nổ ngày 12-4-1927.(
1) Lư Thụy trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo
đường biển lên Vladivostok (Hải Sâm Uy), qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm
1927.
Cuối năm 1927, Lư Thụy (Nguyễn Ái Quốc) được ĐTQTCS chuyển qua hoạt động ở
Tây Âu một thời gian ngắn, rồi đến Ư. Tại đây, ông được gởi qua Xiêm La (Thái
Lan) và ông đến Xiêm tháng 8-1928. Trong thời gian họat động ở Xiêm La, Lư
Thụy có gởi cho Tăng Tuyết Minh một lá thư bằng chữ Nho, bị mật thám Pháp
phát hiện ngày 14-8-1928, nên thư không đến tay người nhận(
2)
Vào tháng 5-1950, nh́n thấy h́nh Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung
Hoa), bà Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt
Minh ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời. Sau năm
1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối. (
3)
 |
|
Thư Lư Thụy gởi cho Tăng Tuyết
Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928
Nguồn: Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l'Indochine au Vietnam
|
Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lư Thụy và Tăng
Tuyết Minh. Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lư Thụy thường
thông tin với các đồng chí dưới dạng thư t́nh để qua mặt giới t́nh báo của
các nước tại Quảng Châu, Trung Hoa. Sự phản bác nầy không hữu lư, v́ chú ư
đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lăng mạn (muội, huynh, t́nh thâm),
th́ không thể là thư liên lạc b́nh thường.
Sau đây là lá thư Lư Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công
an) Đông Dương phát hiện ngày 14/8/1928:
2. Nguyễn Thị Minh Khai, người đồng chí
Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh
(Nghệ An), con ông Nguyễn Huy B́nh, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn
Thị Quang Thái, vợ đầu của Vơ Nguyên Giáp. Minh Khai học trường tiểu học
Pháp Nam ở Vinh. Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau
đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.(
5)
Ở Hương Cảng, tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản, hằng
ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lư Thụy đích thân truyền
dạy. Từ đó nẩy sinh t́nh cảm nam nữ giữa hai người.(
6) Tháng 4-1931,
Minh Khai bị bắt ở Hương Cảng, đến đầu năm sau th́ được thả ra. Trong khi
đó, Lư Thụy cũng bị bắt ngày 6-6-1931 tại Cửu Long (Kowloon), gần Hương
Cảng, rồi bị trục xuất đầu năm 1933. Lư Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải,
đáp tàu đi Vladivostok, rồi đến Moscow trong cùng năm đó.
Ngày 25/7/1935, tại Moscow khai mạc Đại hội cộng sản quốc tế. Phái đoàn đảng
Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm Lê Hồng Phong, Quốc, Kao
Bang, Minh Khai và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến. (
8) CD
Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lư lịch là đă có chồng, và mở ngoặc tên
chồng là Lin. Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.(
9): Cũng theo
nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong pḥng riêng hai người
tại nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh
Khai, Lin cùng chung pḥng, chung giường, chung đồ dùng...(
10)
 |
Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941), một trong
những đảng viên đầu tiên của đảng CSĐD
Nguồn/Ảnh: Ho Chi Minh, A life, William J. Duiker/TTXVN
|
Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga
trong tổ chức Quốc tế Cộng sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge
(Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lại trong sách Về ba ông thánh, th́ trong
thời gian diễn ra Đại hội nầy, ông Lin (tức Lư Thụy) hay ghé lại nhà bà Vera
Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan.
Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.(
11)
Sau Đại hội, Minh Khai ở lại Liên Xô và học ở Viện thợ thuyền Đông phương
tức trường Stalin đến tháng 2-1937. Trong thời gian nầy, Quốc bị giữ lại
Liên Xô và cũng học ở Viện thợ thuyền Đông phương. Năm 1938, Minh Khai qua
Pháp, về Sài G̣n. Hai năm sau (1940), Khai bị bắt, bị lên án tử h́nh, và bị
bắn tại Hóc Môn năm 1941. Theo tài liệu của đảng CSVN, Nguyễn Thị Minh Khai
là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doăn), và có với Phong một người con gái
tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939. Trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những
tài liệu trong tờ khai lư lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge
đưa ra, cho thấy một thời Minh Khai đă là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí
Minh.
Nhà báo Thành Tín c̣n đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Minh (trong
Hồ Chí Minh) là kỷ niệm về Minh Khai? Ngoài ra ông Hồ c̣n lấy tên là T. Lan
để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là Vừa đi đường vừa kể chuyện. Cũng
theo tác giả Thành Tín, có thể chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của
Minh Khai khi ở Moscow.(
12)
3. Đỗ Thị Lạc là ai?
 |
|
Lê Hồng Phong, Tổng bí thư của Đảng Cộng sản
Đông Dương từ 1935 đến 1936 (1902-1942)
Nguồn: wikimedia.org
|
Sau Đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được QTCS gởi
về nước Việt Nam hoạt động, c̣n Nguyễn Tất Thành (hay Lư Thụy, Nguyễn Ái
Quốc) ở lại hay bị giữ lại ở Liên Xô cho đến năm 1939, Thành được gởi về
Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng
Sản Đông Dương.
Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài G̣n, bị đày đi
Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942. Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn
Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, kư giả của một tờ
báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (
13)
Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà
Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát
triển cơ sở, và tổ chức Hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8
(tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí
thư, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách
mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ. Cuối tháng 8-1942,
Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(
14)
Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy ḷng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu
Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn. Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự
hợp tác quốc cộng lần thứ hai để chống Nhật. Tướng Tiêu Văn theo phương thức
đó áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau.
Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt
Cách) phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành Đại hội tại Liễu Châu ngày
28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam. Các phe
phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu
ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy uỷ viên chính thức, một uỷ viên dự
khuyết là Hồ Chí Minh, và ba uỷ viên giám sát.(
15)
Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn ḿnh, rất được Tiêu Văn tin cậy. Hồ đề
nghị Tiêu Văn cho ḿnh về nước cùng một số cán bộ đă được Trung Hoa huấn
luyện, đem theo súng đạn, thuốc men và tiền bạc. Tiêu Văn đồng ư cho Hồ về
Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều
(gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ
quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí. Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng)
vào gần cuối năm 1944.
Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy, có Đỗ Thị Lạc tức “chị Thuần”.
Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rơ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi
tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện
chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu
Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin.
Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em
và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó. Sử gia Trần
Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi cho biết Đỗ Thị Lạc đă có một người
con gái với Hồ Chí Minh.(
16) Do t́nh h́nh biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó
đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS (Office
of Strategic Services), tức Sở T́nh báo Chiến lược (Hoa Kỳ) dưới bí danh là
Lucius vào tháng 3-1945.(
17) Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé
Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn, rồi đi Tân Trào
(Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó.
Chuyện t́nh giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng
Tuyết Minh đều bị đảng CSVN giấu nhẹm, nên sau đó không c̣n dấu vết ǵ nữa.
4. Nông Thị Xuân, cô gái miền sơn cước
Sau khi hiệp định
Geneva được kư kết ngày 20/7/1954, đất nước bị chia
hai, ḥa b́nh được tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Ḥa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách về
sức khỏe các nhân vật cao cấp, đă tuyển một phụ nữ thuộc “gia đ́nh cách
mạng” tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xă Hồng Việt, huyện Ḥa An,
tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông
Hồ năm 1955. Lúc đó, ông Hồ đă khoảng 65 tuổi, c̣n cô Xuân 22 tuổi.
 |
Phố Hàng Bông, Hà Nội
Nguồn: hanoimoi.com.vn/Ảnh Đức My
|
Sau vài tháng có thêm một em gái của cô Xuân tên là Vàng, và một em gái con
cậu ruột là Nguyệt cũng được đưa theo. Cả ba được sắp đặt sinh sống trong
ngôi nhà số 66 phố Hàng Bông - Thợ Nhuộm, gần đường Quang Trung, Hà Nội.
Thông thường, để giữ bí mật về mối quan hệ giữa bà Xuân và ông Hồ, chính bộ
trưởng bộ Công an của nhà cầm quyền Hà Nội là Trần Quốc Hoàn, tên thật là
Nguyễn Cảnh (1916–1986), đưa cô Xuân vào gặp ông Hồ, rồi sau đó chở về.
Bà Xuân rất được ông Hồ ưa thích, và có với ông Hồ một người con trai năm
1956, đặt tên là Nguyễn Tất Trung, nhưng trước sau ông Hồ vẫn không cho bà
Xuân vào ở phủ chủ tịch với ông, và không làm lễ cưới.
Thế rồi bỗng nhiên
“vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có
xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm [Hà Nội].
Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô
Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vă, theo
lệnh của Trần Quốc Hoàn...”(
18)
Theo tác giả Nguyễn Minh Cần, lúc xảy ra vụ án ông là Phó chủ tịch Uỷ ban
Nhân dân thành phố Hà Nội (tương đương với Phó thị trưởng), th́ Trần Quốc
Hoàn, bộ trưởng bộ Công An chính phủ Hà Nội, nhiều lần đến nhà bà Xuân để
hăm hiếp bà từ ngày 6/2/1957, và cuối cùng đă giết bà Xuân ngày 11/2/1957,
bằng cách cho người đánh búa vào đỉnh đầu (theo khám nghiệm của bác sĩ), rồi
quăng xác ở dốc Cổ Ngư.
Điều nầy chứng tỏ thẩm quyền tối cao về chính trị tại Hà Nội lúc đó, hoặc Hồ
Chí Minh, hoặc bộ chính trị trung ương đảng, hoặc cả hai bên, đă quyết định
thanh toán bà Xuân, khi bà nầy muốn công khai hóa mối liên hệ giữa bà với
ông Hồ, và đ̣i chính thức nh́n nhận đứa con, nên Trần Quốc Hoàn mới dám làm
hỗn với bà Xuân trước khi giết. Người chứng kiến việc chị ḿnh bị hăm hiếp
và bị đem đi giết chết là cô Vàng, cũng bị thủ tiêu khoảng ngày 2 hay
3/11/1957.(
19)
 |
Nguyễn Lương Bằng (1904–1979)
Nguồn: congdoanbdvn.org.vn
|
Sau khi bà Xuân qua đời, Nguyễn Tất Trung mới một tuổi, mồ côi mẹ, được d́
là cô Vàng nuôi, nhưng rồi Trung bị bắt đem đi gởi cho Nguyễn Lương Bằng
(1904–1979), bí danh Sao Đỏ, một lănh tụ cộng sản Việt Nam. Năm bé Trung năm
tuổi (1961), người ta lại chuyển cho tướng Chu Văn Tấn nuôi. Chu Văn Tấn
cùng sắc tộc Nùng với bà Xuân, là kẻ đứng ra tổ chức đơn vị cứu quốc quân
đầu tiên của cộng sản ở vùng rừng núi Việt Bắc. Khi ông Hồ qua đời ngày
2-9-1969, thư kư kiêm cận vệ của ông Hồ là Vũ Kỳ nhận Trung làm con nuôi và
đổi tên là Vũ Trung.(
20)
Nguyễn Tất Trung hiện khoảng 50 tuổi và sống ở Hà Nội. Cho đến nay, đảng
CSVN hoàn toàn không lên tiếng về trường hợp Nguyễn Tất Trung, mà vẫn cứ cho
học sinh Việt Nam học tập rằng ông Hồ độc thân, không có vợ và hy sinh cuộc
đời cho cách mạng. Có lẽ đảng CSVN nên thử DNA xem Nguyễn Tất Trung có đúng
con ông Hồ không? Nếu đúng th́ đảng CSVN phải viết lại tiểu sử ông Hồ cho
đúng sự thật, v́ viết sai lịch sử th́ học sinh ở trong nước hiện nay không
thèm học sử, ít điểm về môn sử là phải. Chẳng những tiểu sử ông Hồ, mà toàn
bộ lịch sử do cán bộ cộng sản viết cũng phải hiệu đính lại hết. Ngày nay,
với phương tiện thông tin, tin học phát triển, các em học sinh hoặc gia đ́nh
các em biết rất rơ sự thật đă diễn ra trong quá khứ, nên những chuyện như
thiếu trung thực như chuyện Trần Dân Tiên, hay chuyện “đuốc sống” Lê Văn
Tám, không c̣n hấp dẫn học sinh nữa. V́ vậy các em chán học sử.
Nhà cầm
quyền Hà Nội phải tự nhận lỗi trước, đừng bóp méo, đừng bịa đặt lịch sử, chứ
đừng chê các em học sinh Việt Nam dốt sử.
Trở lại chuyện ông Hồ mấy vợ, ngoài bốn nhân vật chính trên đây, theo tác
giả Thành Tín, tức cựu đại tá Bùi Tín của quân đội cộng sản Hà Nội, trong
cuộc đời Hồ Chí Minh c̣n có một vài cuộc t́nh nhỏ. Như khi c̣n ở Paris, ông
Hồ có một người t́nh tên là Marie Bière; lúc sang Hoa Nam, ông Hồ yêu bà
Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai. Sau đây là lời Thành Tín viết về hai “mối
t́nh con” nầy của ông Hồ:
“...Theo tài liệu ở Pháp, khi trẻ tuổi, làm thợ ảnh, ông Hồ có quan hệ
với một cô đầm tên là Marie Bière nào đó...” Ở một đoạn khác, Thành Tín tiếp
: “...Theo chị Sophia, có người kể với chị là ông Hồ c̣n có lúc yêu cả vợ
ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu, khi gặp nhau ở Hoa Nam thời trẻ; ông
cũng có lúc có t́nh cảm mặn nồng với cả chính bà Véra Vasiliéva. Chị Sophia
kể rằng con gái bà Véra Vasiliéva nhớ lại rằng anh thanh niên Quốc ăn mặc
rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu rất diện, xức cả nước hoa cực thơm...”(
21)
Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, trong bài “Hành tŕnh chính trị của Hồ Chí
Minh”, th́ Nguyễn Ái Quốc, lúc làm nghề nhiếp ảnh ở Paris năm 1923, đă tỏ
t́nh với cô Bourdon, nhưng bị cô nầy cự tuyệt. Cũng theo giáo sư Anh, khi
Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, chính phủ Liên Xô cung cấp cho Quốc một bà vợ;
và khi cảnh sát Hương Cảng bắt Nguyễn Ái Quốc tại Cửu Long ngày 6/6/1931,
ông Quốc đang sống chung với một thiếu phụ tên là Li Sam.(
22)
Sau hiệp định Genève, trước vụ cô Xuân, ban lănh đạo đảng Cộng Sản Hà Nội có
ư kiến là ông Hồ cần có vợ để điều ḥa tâm sinh lư, giúp giữ ǵn sức khỏe
được tốt. Người ta chọn cho Hồ Chí Minh một nữ cán bộ trẻ đẹp là cô Nguyễn
Thị Phương Mai, tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Thanh Hóa. Khi về Hà Nội gặp họ Hồ, cô
Phương Mai đồng ư lấy ông Hồ với điều kiện là phải danh chánh ngôn thuận,
nghĩa là phải làm lễ cưới công khai đàng hoàng. Ông Hồ và các cán bộ lănh
đạo đảng Cộng Sản Hà Nội cho rằng ông Hồ không lấy vợ th́ có lợi cho uy tín
chính trị hơn (?), nên cuối cùng việc cô Phương Mai không thành. Không muốn
lấy vợ th́ ông Hồ triệu cô Phương Mai ra Hà Nội làm ǵ? Phải chăng các lănh
tụ cộng sản Hà Nội sợ cô Phương Mai, một khi trở thành vợ của họ Hồ, sẽ
tranh giành quyền lực nên cản trở vụ nầy? Về sau, cô Phương Mai được đưa lên
làm thứ trưởng bộ Thương binh trong chính phủ Hà Nội.(
23)
Qua các cuộc t́nh của Hồ Chí Minh, và nhất là qua sự kiện Nông Thị Xuân và
Nguyễn Thị Phương Mai, người ta thấy rơ ông Hồ và cả đảng CSVN muốn ông ta
có cơ hội giải quyết sinh lư của một con người b́nh thường, nhưng không chịu
công khai hóa một cách danh chánh ngôn thuận đời sống vợ chồng, nhắm tạo cho
ông ta thành huyền thoại về một siêu nhân suốt đời sống cô đơn, hy sinh bản
thân cho đại cuộc của đất nước.
Đó là chưa kể chính bản thân của ông Hồ là một người say mê công danh đến
cùng tột. Sự say mê đó được thể hiện rơ qua việc đảng Cộng Sản đă in cả hàng
triệu quyển sách bằng tiếng Việt và bằng ngoại ngữ, để thần thánh hóa ông
Hồ, mà ông vẫn chưa thỏa măn. Ông ta c̣n lấy những bút hiệu khác để viết
sách tự đề cao ḿnh. Đó là hai quyển
Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ chủ tịch, bút hiệu Trần Dân Tiên, và
Vừa đi vừa kể chuyện,
bút hiệu T. Lan. Các danh nhân trên thế giới viết hồi kư kể lại quá tŕnh
hoạt động của ḿnh là chuyện b́nh thường. Trong hồi kư của họ, đôi khi họ
cũng ca ngợi chính bản thân họ, nhưng vấn đề là họ thẳng thắn tự đề tên
thật, và chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Ngược lại, Hồ Chí Minh giấu
ḿnh qua những tên khác để tự ca tụng ḿnh. Dưới tên Trần Dân Tiên, ông Hồ
đă mở đầu sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch như sau:
“Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị
Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, nhưng măi đến nay, chưa có người
nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn
nhắc lại thân thế của ḿnh...”
Sau đó, ông Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh tự đề cao ḿnh:
“...Một người
như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề
bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi [?] nghe b́nh sinh
của người được?...”(
24)
Trước phần kể chuyện của Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Sự Thật
đă viết lời dẫn nhập như sau:
“...Trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy
gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, Hồ Chủ Tịch đă nêu tấm
gương đạo đức cách mạng vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, quyết tâm cống hiến cả
cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới...”(
25)
Nhà xuất bản Sự Thật là cơ quan chuyên xuất bản sách vở kinh điển của Trung
ương đảng Cộng Sản, không thể không biết rơ lai lịch của quyển sách, lư lịch
của người viết. Nếu nhà xuất bản Sự Thật không biết sách của ai, hoặc tác
giả chỉ là một nhà báo tầm thường không tên tuổi như Trần Dân Tiên hoặc T.
Lan, th́ chắc chắn không bao giờ sách được nhà xuất bản Sự Thật in ra. Do
đó, chắc chắn nhà xuất bản Sự Thật biết Trần Dân Tiên và T. Lan là Hồ Chí
Minh, mới dám in hai quyển trên. Chẳng những sách được in trong nước, mà các
sách nầy c̣n được nhà xuất bản Ngoại Văn của nhà nước Hà Nội dịch thành
nhiều thứ tiếng khác nhau, để phát hành khắp trên thế giới.
Đây không phải chỉ là ư đồ cá nhân của Hồ Chí Minh mà c̣n là chủ tâm của
toàn đảng CSVN nhắm suy tôn lănh tụ, thần thánh hóa Hồ Chí Minh, để đánh lừa
chẳng những đồng bào Việt Nam ở trong nước, mà c̣n cả toàn thể dư luận thế
giới trong thời gian chiến tranh trước đây.
Hồ Chí Minh cũng chỉ là một con người b́nh thường như mọi người, có vợ có
con, kể cả việc có nhiều vợ hoặc người t́nh cũng không có ǵ lạ. Hiện tượng
đa thê rất phổ thông trong xă hội, nhất là xă hội nước ta cho đến giữa thế
kỷ 20. Vấn đề là tham vọng trở thành một siêu lănh tụ chính trị đă thúc đẩy
ông Hồ giấu tất cả những quan hệ t́nh cảm cá nhân, chối bỏ trách nhiệm làm
chồng, làm cha, rồi lại có lúc đối xử tàn bạo với người đă từng là vợ ḿnh,
để xóa bỏ mọi dấu tích liên hệ t́nh cảm.
 |
Helene Demuth (ảnh chụp 1850)
Nguồn: marxists.org
|
Cung cách hành xử của ông Hồ có thể do ông học được từ kinh nghiệm của Karl
Marx (1818-1883), người đă cùng Friedrich Engels (1820–1895) tung ra bản
Tuyên ngôn Quốc tế Cộng sản năm 1848, bênh vực giai cấp công nhân nghèo khổ,
tiếng tăm lừng lẫy trên thế giới. Từ năm 1849, trong thời kỳ sinh sống ở
London (Anh) cho đến khi từ trần, Karl Marx có một người con trai ngoại hôn
sinh năm 1851, với một phụ nữ giúp việc trong nhà tên là Helene Demuth.
Người giúp việc nầy do bà mẹ vợ, vốn là quư tộc Đức, v́ thương con gái, gởi
qua từ Đức. Người con trai ngoại hôn của Marx tên là Frederick Lewis (Henry)
Demuth (1851–1929). Chẳng những Karl Marx không thừa nhận Frederick mà c̣n
buộc bà Helene phải trục xuất đứa con ra khỏi nhà. Dư luận cho rằng Marx sợ
sự có mặt của người con làm giảm uy tín ông ta.(
26)
Karl Marx ngoại t́nh hay có con ngoại hôn là cũng là chuyện b́nh thường.
Chuyện bất b́nh thường ở đây là Marx, ông tổ của lư thuyết cộng sản, chủ
trương bênh vực quyền lợi giai cấp công nhân vô sản nghèo khổ, yêu và cưới
một cô gái quư tộc, sau đó phản bội vợ và ngoại t́nh, lấy một phụ nữ nghèo
khổ, rồi lại thiếu chung thủy với người t́nh công nhân nghèo, và đuổi người
con của chính ḿnh ra khỏi nhà. Người con nầy phải mang họ mẹ, sống tăm tối
không tương lai. Điều đặc biệt hơn nữa, các tổ chức cộng sản quốc tế giấu
nhẹm việc nầy, măi đến đầu thập niên 70 mới được phát hiện.(
27)
Ông tổ cộng sản mà c̣n vậy, th́ những đệ tử như Lenin, Stalin, Mao Trạch
Đông, Hồ Chí Minh, noi theo đúng “sách” th́ cũng không lấy làm lạ. Riêng ông
Hồ hành xử như vậy chẳng qua v́ quá ham danh vọng và quyền lực, nhắm tự tạo
cho ḿnh h́nh ảnh của một lănh tụ độc thân, trong sạch, hy sinh cá nhân, để
suốt đời tận tụy lo toan việc nước, nhắm lôi cuốn quần chúng đi theo đường
lối cộng sản của ông ta.
Huyền thoại nầy rất cần thiết để xây dựng chế độ độc tài, nên ông Hồ và các
đảng viên thân tín của ông càng ra sức gia công phát huy rộng răi huyền
thoại nầy cho những toan tính của đảng Cộng Sản. Một khi nhà lănh tụ vong
thân trong huyền thoại, th́ họ không c̣n được cuộc sống b́nh thường của con
người b́nh thường, mà nhất nhất đều phải theo sự điều hành trong guồng máy
của chủ nghĩa độc tài. Do đó, khi trở thành lănh tụ nhà nước ở Hà Nội, ông
Hồ muốn quyết định bất cứ việc ǵ, dù có tính cách riêng tư, cũng đều có ư
kiến của bộ chính trị đảng Cộng Sản, tức là nhóm lănh đạo cao cấp trong đảng
Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ. V́ thế mới có chuyện đảng Cộng Sản đi t́m phụ
nữ cho Hồ Chí Minh. Tuy nhiên một khi các cô gái muốn chính danh, đ̣i hợp
thức hóa bằng hôn lễ công khai, th́ lại thoái thác rằng “bác” không lấy vợ
để có lợi cho uy tín chính trị hơn.
Trong chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, không phải chỉ có một trường hợp
điển h́nh là Hồ Chí Minh, mà có thể c̣n nhiều khuôn mặt khác nữa... Hiện
tượng nầy cũng không phải chỉ riêng ở Việt Nam mà là một hiện tượng chung
của thế giới cộng sản. Lư do chính là trong thế giới cộng sản, không có cơ
chế dân chủ, không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí. Từ đó không
có sự chế tài đối với các lănh tụ. Các lănh tụ vượt ra ngoài ṿng dư luận,
đứng trên luật pháp, tự cho ḿnh có quyền làm bất cứ điều ǵ ḿnh thích,
không sợ sự phê b́nh của dân chúng, cũng không sợ sự chế tài của luật pháp.
Điều nầy đưa đến nhiều hậu quả tai hại rộng lớn và lâu dài cho đất nước,
khiến đất nước càng ngày càng đi xuống thê thảm như t́nh trạng Việt Nam
chúng ta ngày nay.
Toronto, Canada