Hồ Chí Minh và Tội ác diệt chủng: Cuộc Cải Cách Ruộng Đất (2):
Phương Pháp Tiến Hành
Trần Gia
Phụng
- Từ 1949 đến 1956, Việt Minh (VM) cộng sản mở năm đợt cải cách ruộng
đất (CCRĐ). Sau mỗi đợt, VM tổ chức hội nghị rút ưu khuyết điểm, để rồi
tiến hành tiếp đợt khác. Trong hai đợt đầu
(1949 và 1950),
VM thực hiện cải CCRĐ nhẹ nhàng để phục vụ nhu cầu
lương thực, nuôi quân
trong hoàn cảnh chiến tranh.
Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản chiếm được lục địa Trung Hoa,
thành lập nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH). Cộng Ḥa Nhân Dân
Trung Hoa thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa của Hồ Chí Minh
ngày 18-1-1950. Tiếp theo, Liên Xô thừa nhận ngày 30-1-1950. Tháng
2-1950, Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh (Beijing) và Mạc Tư Khoa (Moscow) xin
viện trợ. Khi gặp Hồ Chí Minh, Stalin ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải thực
hiện ngay hai việc: thứ nhất tái công khai đảng cộng sản và thứ hai đẩy
mạnh CCRĐ theo đường lối cộng sản. Stalin chỉ đạo cho Hồ Chí Minh phải
cử người sang CHNDTH học tập phương pháp CCRĐ triệt để, v́ lúc đó mối
liên lạc Xô-Trung c̣n b́nh thường và v́ Việt Nam nằm sát biên giới
CHNDTH.
Sau khi về nước, Hồ Chí Minh liền triệu tập Đại hội lần 2 đảng Cộng Sản
Đông Dương tại chiến khu rừng núi Tuyên Quang, tái công khai đảng cộng
sản dưới danh xưng mới là đảng Lao Động (LĐ) ngày 19-2-1951, do Hồ Chí
Minh làm chủ tịch, Trường Chinh làm tổng bí thư. Tưởng cũng nên nhắc lại
rằng trong Đại hội nầy, Hồ Chí Minh đă phát biểu: “Về lư luận, đảng Lao
Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin…lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm
kim chỉ nam…Tôi không có tư tưởng ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin.”(Nguyễn Văn
Trấn, Viết cho mẹ và quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, tr.
150,152.) Chẳng những thế, cũng trong Đại hội nầy, Hồ Chí Minh c̣n nhiều
lần tuyên bố: “Ai có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch
Đông th́ không thể sai được.”(Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam
qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, 2001, tr. 63.)
Để tiến hành CCRĐ, sau Đại hội 2, VM cử người sang CHNDTH tham dự khóa
học tập về chủ nghĩa Mác-Lê-nin tổ chức tại Bắc Kinh cho các đảng Cộng
Sản các nước Á Châu như Indonesia, Mă Lai, Thái Lan, Pakistan, Phi Luật
Tân, Nhật Bản, chính là để học phương thức CCRĐ theo đường lối CHNDTH.
Phái đoàn nầy trở về liền được đảng LĐ gởi tổ chức thí điểm CCRĐ, bắt
đầu phát động "giảm
tô, giảm tức"(1)
ở vài tỉnh Việt Bắc và ở Thanh Hóa.
Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên cộng sản cao cấp miền Nam tập kết ra Bắc,
đă có mặt trong phái đoàn Việt Nam sang Bắc Kinh học tập CCRĐ. Về nước,
ông Trấn tham gia công tác tại thí điểm Thanh Hóa, và nhận xét rằng cuộc
phát động CCRĐ tại Thanh Hóa xem ra không thành công.(Nguyễn Văn Trấn,
sđd. tr. 164.) Sau lần thử nghiệm ở các thí điểm trên, VM rút kinh
nghiệm và chuẩn bị kỹ lưỡng bài bản thực hiện cuộc CCRĐ một cách chu đáo
triệt để.
Trong khi đó, từ năm 1949, ban lănh đạo VM đă đưa ra phong trào "Rèn
cán chỉnh quân"
trong quân đội, và "Rèn cán chỉnh cơ" về phía dân sự. “Rèn cán chỉnh
quân” là rèn luyện cán bộ, chỉnh đốn quân đội. “Rèn cán chỉnh cơ” là rèn
luyện cán bộ, chỉnh đốn cơ quan. Phong trào nầy không đạt được những mục
tiêu do VM đề ra. Việt Minh liền theo đường lối cứng rắn quyết liệt của
CHNDTH, tổ chức
phong trào "Chỉnh huấn" năm 1950.
CHỈNH HUẤN:
Theo nghĩa tầm nguyên, “chỉnh” là sửa đổi, sắp xếp; “huấn” là dạy dỗ.
Chỉnh huấn có nghĩa là dạy dỗ, huấn luyện và sửa đổi (con người) cho
đúng hơn, tốt hơn theo đường lối cộng sản. Phong trào "chỉnh huấn" của
VMCS nhắm mục đích thanh lọc đảng viên, củng cố tư tưởng chuyên chính vô
sản, và hỗ trợ cho cuộc CCRĐ. Lúc đó VM nhận định: "Phần lớn [cán bộ,
đảng viên lúc đó] là tiểu tư sản trí thức, công chức cũ, có người xuất
thân giai cấp bóc lột, và không loại trừ người "hai mặt chui vào đảng".
Nói chung, anh em ta, trót đă thụ hưởng giáo dục của đế quốc tư bản th́
sự tham gia cách mạng không khỏi có phức tạp. Huống chi nay lại c̣n có
Cải cách ruộng đất để bồi dưỡng cho nông dân để đảm bảo cho cuộc kháng
chiến thắng lợi, th́ biết đâu tư tưởng của họ không biến đổi phức tạp
hơn nữa. Vậy nên Trung ương cho mở cuộc vận động
chỉnh huấn nầy để tiếp tục
giáo dục, để cải tạo họ một cách triệt để, cho họ phân rơ địch ta trong
tư tưởng, cho họ…cho họ nào là tự ḿnh cắt đứt mối liên hệ với thành
phần xuất thân, dứt khoát từ bỏ các thứ tư tưởng cầu an hưởng lạc, tự tư
tự lợi…"
(Nguyễn Văn Trấn, sđd. tt. 171-172.)
Nói theo ngôn ngữ của cộng sản,
chỉnh huấn là tự phê, tự
kiểm.
Như vậy chỉnh huấn có nghĩa là tự suy nghĩ và nhận xét về những tư tưởng,
hành động cũ của ḿnh trong đời sống đă qua, mà không thích hợp với
đường lối cộng sản.
Những tư tưởng và hành
động nầy bị xem là sai lầm, tội lỗi, được từng cá nhân tự giác ngộ, tự
khai tŕnh,
và tự đề ra những biện pháp sửa chữa. Nói cách khác, chỉnh huấn là đoạn
tuyệt với quá khứ và tự nguyện sống theo nguyên tắc cộng sản, hay cũng
theo ngôn ngữ cộng sản,
là lột xác để trở thành
con người cộng sản.
Những văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ như
Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,
Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Xuân Khoát… đă tự phỉ báng ḿnh, và nguyện
theo cộng sản suốt đời.
Sau đây là tâm tư của Xuân Diệu đáp lại lá thư của ông Hồ trong cuộc học
tập chỉnh huấn:
"Chúng con thề nguyện một lời,
Quyết tâm thành
khẩn… lột người từ đây…"
(Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài G̣n 1959, tr. 22.)
Phong trào chỉnh huấn đă gây nhiều điêu đứng cho giới trí thức, văn nghệ
sĩ. Một trong những điêu đứng rất mỉa mai, như lời ông Nguyễn Văn Trấn
viết, đó là: "Họ nói khổ sở không phải là nói ra lỗi lầm,
mà khổ sở là phải bịa ra lỗi lầm để bản kiểm thảo được coi là thành khẩn."
(Nguyễn Văn Trấn, sđd. tr. 173.)
THÀNH PHẦN NÔNG THÔN:
Đối với các thành phần nông nghiệp, VM ra sắc lệnh vào tháng 3-1953 ấn
định các thành phần xă hội ở nông thôn như sau: (Bernard Fall, sđd. tr.
283.)
Địa chủ: là những người có nhiều ruộng đất mà không trực tiếp canh tác.
Địa chủ được chia thành ba hạng: địa chủ thường (có khoảng
dưới 5 mẫu ta,
đủ ăn, không phạm tội ác ôn dưới thời Pháp thuộc),
địa chủ cường hào ác bá
(những người hiếp đáp, ngược đăi bần nông và bần cố nông),
địa chủ phản động
(quan lại phong kiến, Việt Quốc, Đại Việt, hay thân Pháp).
Phú nông: có khoảng
3 mẫu ta đất,
có một con trâu, tự đứng ra canh tác và thuê nông dân trong việc canh
tác.
Trung nông: có dưới
3 mẫu ta,
trực canh, đủ sống. Trung nông chia thành 2 loại: trung nông cấp cao (có
dưới 3 mẫu ta, có một con trâu hay ḅ), và trung nông cấp thấp (có dưới
1 mẫu ta ruộng).
Bần nông: có ít sào đất, không đủ sống, phải đi làm thuê cho địa chủ hay
thuê đất của địa chủ rồi trả địa tô.
Bần cố nông: hoàn toàn không có đất, không có gia súc, không có nông cụ,
làm thuê đủ thứ nghề để sống. (Lâm Thanh Liêm, bđd. sđd. tt. 187-188.)
Đường lối đấu tranh cải cách là: dựa vào bần cố nông, lôi kéo (tranh thủ)
trung nông, cô lập phú nông, và tập trung mũi nhọn vào địa chủ.
VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG:
Để lôi cuốn nông dân hưởng ứng cuộc CCRĐ, ban cải cách phải theo đúng ba
giai đoạn đề ra do sắc lệnh ngày 12-4-1953 như sau:
Thứ nhất: khích
động tâm lư quần chúng chống lại các địa chủ bằng cách đưa cán bộ về
thực hiện "tam cùng" hay "tam đồng" với bần nông, để "thăm nghèo hỏi khổ"
và sau đó "bắt rễ, xâu chuổi".
Theo VM, cán bộ cần phải tam cùng tức "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với
dân chúng, để "thăm nghèo hỏi khổ", mới khám phá được rơ ràng những gia
đ́nh nghèo khổ, bần cố nông. Cũng theo VM, bần nông nghèo khổ nợ nần và
sợ sệt các địa chủ, không dám nói lên sự thật, nên cán bộ phải
"tam cùng" để họ thổ lộ
tâm can, mới có thể "bắt rễ xâu chuổi",
tạo ra liên minh đấu tranh cải cách.
"Bắt rễ" có nghĩa là t́m
ra những bần cố nông có tinh thần đấu tranh, thường thường là những tên
đầu trộm đuôi cướp hung hăn.
Sau khi t́m ra "rễ", th́ khuyến khích "rễ"
t́m thêm đồng bọn, gọi là
"xâu chuổi".
Một khi đă "bắt rễ xâu chuổi", cán bộ sẽ cho bần nông biết là họ được
nhà cầm quyền VM hỗ trợ để chống lại địa chủ.
Thứ hai: Sau khi len lỏi "bắt rễ xâu chuổi", và nhờ thông tin của rễ
chuổi nầy, nắm vững t́nh h́nh các gia đ́nh trong địa bàn hoạt động, cán
bộ bắt đầu đánh giá và xác định lại các thành phần xă hội đă được Uỷ ban
hành chánh địa phương sắp xếp theo sắc lệnh tháng 3-1953 nêu trên.
Từ đó, đội công tác
mới quyết định các đối tượng sẽ bị đấu tố. Đây là cơ hội giải quyết
những ân oán đă có từ trước ở trong làng,
ví dụ rút địa chủ xuống hàng phú nông cho nhẹ tội, hay ngược lại đưa phú
nông lên hàng địa chủ cho nặng tội.
Thứ ba: Thiết lập ṭa án nhân dân để xét xử những kẻ có tội với nhân dân.
Để việc xét xử đạt kết quả đúng yêu cầu của đảng LĐ,
các bần nông được tổ chức
chặt chẽ và sửa soạn kỹ càng để họ chủ động đấu tố.
Trong năm 1953, mọi việc đă chuẩn bị đầy đủ để tiến hành CCRĐ, nhưng vào
đầu năm 1954, chiến tranh đến hồi khốc liệt và sắp kết thúc, chính phủ
VM bận giải quyết chiến trường, vận động ngoại giao, rồi kư kết Hiệp
định Genève nên cuộc CCRĐ tạm đ́nh hoăn v́ sợ tiếng vang lan truyền khắp
nơi, khiến dân chúng lo sợ bỏ di cư vào Nam.
Việt Minh chỉ đ́nh hoăn
chứ không băi bỏ.
Sau Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đảng LĐ cai trị phía bắc vĩ tuyến
17 (bắc sông Bến Hải, Quảng Trị). Ổn định xong t́nh h́nh, đảng LĐ mở lại
cuộc CCRĐ giai đoạn 5. Lần nầy việc tổ chức có quy củ rơ ràng, do Uỷ ban
CCRĐ đứng đầu.
UỶ BAN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT:
gồm hai cấp trung ương và địa phương.
Cấp trung ương: do tổng bí thư đảng LĐ là
Trường Chinh
Đặng Xuân Khu làm chủ tịch, có ba người phụ tá là
Hoàng Quốc Việt, Lê Văn
Lương (đều
là uỷ viên Bộ chính Trị) và
Hồ Viết Thắng
(uỷ viên Trung ương đảng). Hồ Viết Thắng giữ chức giám đốc, trực tiếp
điều hành cuộc cải cách theo mệnh lệnh của Trường Chinh. Hồ Viết Thắng
đă từng đi học CHNDTH, được Trường Chinh giao nhiệm vụ mở "Trung tâm đào
tạo cán bộ cải cách ruộng đất" tại chiến khu Cao Bắc Lạng.
Cấp tỉnh: Hồ Viết Thắng bổ nhiệm những người đă được đào tạo về các tỉnh
tổ chức các đoàn CCRĐ. Trung b́nh mỗi tỉnh có
10 đoàn, mỗi đoàn có
khoảng 100
cán bộ do một
đoàn trưởng đứng đầu, quyền hạn tương đương với một bí thư đảng cấp tỉnh,
nhận lệnh trực tiếp từ Ban cải cách trung ương, không qua trung gian hệ
thống đảng hay chính quyền địa phương. Mỗi đoàn gồm nhiều đội, mỗi đội
có khoảng 6 hay 7 cán bộ.
Đội trưởng được chọn trong
số bần nông hay bần cố nông,
nhất là những người đă từng có kinh nghiệm tham gia các CCRĐ trước đây.
Các đội có quyền hạn tuyệt đối, nhận lệnh thẳng từ Uỷ ban CCRĐ, đúng như
câu tục ngữ lúc đó "nhất đội nh́ trời", được quân đội bảo vệ để thi hành
công tác, và được nhà cầm quyền địa phương cung cấp đầy đủ tài liệu theo
chính sách của đảng và nhà nước. (Lâm Thanh Liêm, sđd., bđd. tt.
184-185.)
Nguyên tắc hành động căn bản của các Uỷ ban CCRĐ là câu
khẩu hiệu: "Thà chết mười
người oan c̣n hơn để sót một địch."(2)
Chính câu khẩu hiệu nầy đă đưa đến việc giết hại tràn lan biết bao nhiêu
lương dân vô tội.
Đoàn và đội công
tác phóng tay phát
động quần chúng đấu tranh
CCRĐ hoạt động giống như
thần chết:
Bí mật đến một địa phương nào đó,
bí mật hành động... và
gieo rắc tai ương khủng khiếp cho địa phương.
Không những chỉ địa chủ, phú nông sợ hăi mà toàn thể dân chúng và cả các
cấp chính quyền cũng như quân đội địa phương đều sợ hăi, v́
bất cứ ai cũng có thể bị
dính tên vào sổ đấu tố
mà không ai có thể đoán lường trước hậu quả.
T̉A ÁN NHÂN DÂN:
Sắc lệnh năm 1953
cũng như sắc lệnh năm 1955 đều thiết lập ṭa án nhân dân để xét xử những
tội phạm trong CCRĐ. Ṭa án nầy được tổ chức ở những vùng có cải cách,
chánh án là một đội viên trong đội cải cách, biện lư (công tố) là một
nông dân hay bần
nông đă từng làm việc
(gia nhân, tá điền…) trong nhà của bị cáo, biết rơ lư lịch khổ chủ. Các
quan ṭa nầy chỉ là những kẻ dốt nát, lâu nay thấp kém, bỗng chốc được
cất nhắc lên địa vị quan trọng, nên
hạch sách trả thù, moi ra
hay bịa đặt mọi thứ gọi là thói hư tật xấu của khổ chủ, đặc biệt là tội
dâm ô,
để đấu tố. Đặc biệt trong ṭa án nhân dân không có người đóng vai tṛ
luật sư biện hộ, và cũng chẳng ai dám biện hộ cho bị cáo cả. Quân đội
bảo vệ ṭa án và những người tham dự đều là những người do
cộng sản sắp đặt trước, ḥ
hét khuyến khích
người đóng vai "công tố", bằng cách
chửi rủa hoặc tố cáo thêm
những “tội ác” của nạn nhân để làm bằng chứng.
Cuộc đấu tố bắt đầu bằng đấu lư, rồi đấu lực, đến đấu pháp; có khi c̣n
cả đấu ảnh nữa. Đấu lư là
đưa ra những bằng chứng
hoặc có thực, hoặc
bịa đặt
để tố cáo nạn nhân. Đấu lực là dùng sức mạnh để trấn áp (cộng sản mạo
xưng là sức mạnh quần chúng), với
cực h́nh tra khảo, đánh
đập nạn nhân
và bắt buộc nạn nhân phải nhận tất cả tội lỗi đă được đưa ra, dầu nạn
nhân không phạm phải. Cuối cùng là đấu pháp tức đưa nạn nhân ra trước "pháp
luật", tức ṭa án
nhân dân.
Việc xét xử không dựa trên luật pháp của nhà nước, mà dựa trên những ư
kiến và đ̣i hỏi đưa ra tại chỗ của "quần chúng", tức là những người tổ
chức và hiện diện tại "phiên ṭa", nghĩa là chẳng có luật pháp ǵ cả, mà
chỉ theo quyết định của đội cải cách.
Những người chứng kiến các cảnh đấu tố hiện c̣n sống kể lại nhiều cảnh
tra tấn nạn nhân mà trong hoàn cảnh b́nh thường ngày nay không ai có thể
tưởng tượng nổi: từ
bỏ đói, bỏ khát, sỉ nhục, mắng chửi, hành hạ, thậm chí đào một cái hố
bắt nạn nhân nằm xuống, rồi tiểu đại tiện lên người nạn nhân, giựt tóc,
đánh đập, đến d́m nước (rồi kéo lên cho tỉnh lại), dùng tre nhọn đâm
xuyên thủng tay chân, thân thể...
Sau khi nạn nhân chịu khuất phục, đội cải cách cho tập dượt trước việc
xét xử. Họ bắt buộc "chánh án, biện lư" và nạn nhân học thuộc tất cả
những lời đối đáp qua lại, cho đến khi cả ba thành phần nầy (chánh án,
biện lư và nạn nhân) nhuần nhuyễn, thuộc ḷng mọi việc, mới chính thức
mở phiên ṭa xét xử công khai trước quần chúng.
Phiên ṭa được tổ chức tại một địa điểm công cộng trong làng. Mọi người
trong làng đều phải tham dự, kể cả gia đ́nh nạn nhân. Nạn nhân
bị trói thúc ké, tay quặt
ra đàng sau lưng, quỳ trước mặt bàn quan ṭa, đầu cúi xuống.
Sau khi ṭa lấy khẩu cung xong, dân chúng và nhân chứng đứng ra tố cáo "tội
ác" của nạn nhân. Họ xỉ vả
chửi rủa, nhổ nước bọt,
hành hạ đánh đập nạn nhân.
Đôi khi ngay những người trong gia đ́nh nạn nhân, cũng
bị bắt buộc phải phụ họa
với ṭa án,
tố cáo nạn nhân.
Cuối cùng viên "biện lư" dựa vào “bằng chứng” nhân dân vừa tố cáo, đứng
ra buộc tội nạn nhân và đề nghị một bản án thích đáng. Thật ra, bản án
nầy đă được đội CCRĐ quyết định trước rồi. Để có vẻ dân chủ, viên chánh
án c̣n đưa bản án ra “hỏi
ư kiến” nhân dân.
Những nhân viên ban cải cách, các chức quyền làng xă, các quân sĩ bảo vệ
phiên ṭa có mặt tại hiện trường, liền tỏ ư hưởng ứng bằng
cách vỗ tay, la hét, đưa
vũ khí lên
để ủng hộ. Dân chúng chẳng đặng đừng phải làm theo.
Bản án của ṭa án nhân dân có tính cách chung thẩm. Nạn nhân không được
kháng án, không được khiếu tố khiếu nại với ai cả. Nạn nhân không có
cách ǵ để tự biện hộ, và chỉ cúi đầu chấp nhận kết quả bản án. V́ đă
được thao dượt trước, nhiều nạn nhân biết trước kết quả bản án, nên có
người đă tự tử
trước khi ṭa án thực sự tiến hành,
để tránh kéo dài sự nhục nhă và đau đớn. Nhiều nạn nhân tự tử hoặc
không chịu nổi
những đ̣n tra tấn mà chết,
nhưng gia đ́nh không được đem đi chôn,
để phơi nắng, phơi mưa
giữa các cánh đồng.
Gia đ́nh nạn nhân đau ḷng quá, hoặc phải hối lộ đội cải cách để được
đem xác thân nhân đi chôn, hoặc ban đêm kiếm cách đánh cắp đem chôn một
cách bí mật.
Nạn nhân tuy đă tự tử (chết) vẫn tiếp tục bị đấu tố, gọi là "đấu ảnh".
“Đấu ảnh” là đặt tấm ảnh của nạn nhân trên một bục đất, nếu không có ảnh
th́ đặt một di vật của nạn nhân như mũ, áo..., nơi chỗ nạn nhân bị trói,
và người ta đứng ra
tố cáo, xỉ vả nạn nhân như là người nầy vẫn c̣n sống.
Câu chuyện do ông Lê Nhân, một cựu cán bộ đảng viên, kể lại trong lá thư
ông gởi cho ông Phan Văn Khải, thủ tướng nhà cầm quyền Hà Nội, viết từ
Hà Nội ngày 5-12-2005, có thể xem là một trường hợp đấu ảnh điển h́nh.
“ Bạn của Lê Nhân là anh Phan Thiệu Cơ, cháu đích tôn của cụ Phan Bội
Châu kể rằng ông nội của anh là cụ Phan bị quy lên thành phần địa chủ,
quan lại phong kiến nên nhà cửa của Phan Bội Châu ở Nam Đàn Nghệ An và
sách vở di cảo của cụ bị đảng cộng sản phần th́ tịch thu, phần th́ đốt
sạch. Cụ Phan một anh hùng dân tộc vĩ đại nhất thế kỷ XX chết rồi vẫn bị
đội cải cách ruộng đất sai làm h́nh nộm giống y người thật đem ra giữa
chợ đấu tố, lấy cứt trát vào mặt h́nh nộm cụ Phan.” (trích Đàn Chim Việt
ngày 5-12-2005, người trích in đậm.)
Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhân vật lịch sử vĩ đại tầm cỡ quốc gia
và quốc tế, gốc người Nghệ An. Cụ là niềm hănh diện của ṭan thể dân
chúng tỉnh Nghệ An, trong đó có cả những đảng viên cao cấp trong đảng LĐ.
Phan Bội Châu lại cùng quê với Hồ Chí Minh. Khi Hồ Chí Minh qua Trung
Hoa họat động năm 1924, Phan Bội Châu cũng họat động tại đây. Bề ng̣ai
Hồ Chí Minh kính cẩn gọi cụ Phan bằng bác, để rồi sau đó chính Hồ Chí
Minh (lúc đó có tên là Lư Thụy) đă hợp tác cùng Lâm Đức Thụ bán tin cho
Pháp bắt Phan Bội Châu ngày 1-7-1925 khi cụ Phan vừa từ Hàng Châu đến
Thượng Hải (Trung Hoa).(3) Pháp bí mật đưa cụ Phan về Hà Nội để đưa ra
ṭa án, rồi quyết định an trí cụ Phan ở Huế cho đến khi cụ từ trần ngày
29-10-1940.
Phan Bội Châu từ trần trước cuộc CCRĐ 15 năm, mà vẫn bị đem ra đấu tố.
Việc đấu tố một nhân vật tầm cỡ như Phan Bội Châu, một người được dân
chúng Nghệ An kính mến và trân trọng, không thể là một hành động tự phát
tại chỗ của đội CCRĐ địa phương, mà phải có mật lệnh từ cấp trên, mà cấp
trên nầy phải là một người lănh đạo cao cấp. Người lănh đạo cao cấp nầy
không thể ai khác hơn là Hồ Chí Minh, nên đội CCRĐ Nghệ An mới dám chà
đạp lên Phan Bội Châu, thần tượng của quê hương Nghệ An.
Như thế, chính Hồ Chí Minh
đă hai lần ném đá giấu tay triệt hạ nhà yêu nước vĩ đại Phan Bội Châu.
Trở lại với chuyện CCRĐ. Sau đây là hoạt cảnh đấu tố qua một bài “thơ”
của Xuân Diệu. Trước năm 1945, Xuân Diệu là một nhà thơ lăng mạn nổi
tiếng. Sau năm 1945 Xuân Diệu cũng rất nổi tiếng v́ ông là một bồi bút
cộng sản:
"Anh em ơi! quyết
chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung kẻ thù,
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đ́nh làng đêm nay.
Lôi cổ bọn nó ra đây,
Bắt quỳ gục xuống, đọa đày chết thôi…"
Tóm lại, trong cuộc CCRĐ, cộng sản đă không từ nan bất cứ một phương
pháp nào để hạ nhục và hạ gục đối tượng bị đem ra đấu tố, đồng thời để
làm cho dân chúng
nông thôn khiếp hăi mà phải phục ṭng theo mệnh lệnh của cộng sản một
cách tuyệt đối.
Từ đó cộng sản mới thực hiện những âm mưu đen tối của họ, mà gần nhất là
dễ dàng áp đặt nông dân vào tổ chức hợp tác xă nông nghiệp, để bóc lột
nông dân một cách khoa học và tàn bạo hơn bao giờ cả.
(Kỳ tới: Hậu quả của cuộc CCRĐ)
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)
1."Giảm tô, giảm tức": Tô: tiền thuê đất mà tá điền (nông dân cày ruộng)
trả cho chủ đất (điền chủ hay địa chủ). Tức: lăi trên số tiền hay trên
số lúa tá điền vay của chủ điền. Số lăi nầy nặng hay nhẹ tùy theo sự
thỏa thuận giữa người cho vay và người xin vay, thường thường là rất
nặng, lại lũy tiến, nên có lúc tiền lăi cao hơn tiền vay.
2.Hoàng Văn Chí, sđd. tt. 293-315, trích đăng lại bài "Qua những sai lầm
trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lănh đạo" của luật sư
Nguyễn Mạnh Tường, tt. 293-315. Trong bài nầy, luật sư Tường nhắc lại
câu khẩu hiệu trên đây của Uỷ ban CCRĐ.
3.Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang
giả [chữ Trung Hoa], Đài Bắc: Nxb. Truyện Kư Văn Học, 1972; bản dịch của
Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ,
1999, tt. 84-85.
Lương
Sơn: Hồ Chí Minh là ai?