Thực Chất Của Hồ Chí Minh
(trích "Bộ Mặt Thật của HCM" của N. Thuyên)
Ngày 18 tháng Giêng năm 1919, một hội nghị ḥa b́nh được triệu tập tại
Versailles (Pháp), đặc biệt có sự tham dự của Tổng Thống Hoa Kỳ lúc đó là Thomas
Woodrow Wilson. Nguyễn Ái Quốc/Hồ chí Minh (HCM) đă len lỏi tới Hội nghị, đích
thân trao một "Bản Yêu Sách gồm 8 điểm" như sau :
1. Ân xá cho tất cả các chính trị phạm bản xứ.
2. Cải cách nền pháp lư ở Đông Dương bằng cách ban bố cho người bản xứ cũng được
bảo đảm về pháp lư như người Âu châu, xóa bỏ hoàn toàn và triệt để các ṭa án
đặc biệt dùng làm công cụ khủng bố và áp bức đối với bộ phận trung thực nhất
trong dân An Nam.
3. Quyền tự do báo chí và ngôn luận.
4. Quyền tự do lập hội và hội họp.
5. Quyền tự do xuất ngoại và đi du lịch ngước ngoài.
6. Quyền tự do giáo dục và thành lập các trường Kỹ Thuật chuyên nghiệp ở tất cả
các tỉnh cho người bản xứ.
7. Thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.
8. Có đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra tại Nghị Viện
Pháp để giúp Nghị Viện biết được nguyện vọng của người bản xứ.
Nhân danh cuộc tranh đấu cho quyền sống của dân tộc Việt, HCM đă đ̣i hỏi 8 điều
căn bản trên. Nh́n lại giai đoạn này của lịch sử, ai cũng nhận thức được và tán
dương lư tưởng của người thanh niên ái quốc nàỵ Và chắc chắn một điều là sau khi
"Bản Yêu Sách 8 điểm" được công bố, mọi người Việt cả trong lẫn ngoài nước đều
tin rằng sau này, nếu HCM giành được độc lập tự do từ thực dân Pháp, th́ nhất
định nước ta sẽ có một chế độ dân chủ. Nhưng, như chúng ta đă thấy, thực tế rất
phũ phàng. Lúc chưa nắm được quyền hành, HCM đă hô hào đ̣i hỏi các quyền tự do
căn bản cho người dân, nhưng khi đă cầm quyền, một điều nhỏ trong Bản Yêu Sách
cũng không có, nói chi đến 8 điều ! Thiết tưởng cũng nên duyệt qua từng điểm
trong Bản Yêu Sách để thẩm định xem HCM và đám lâu la ở Bắc Bộ Phủ về sau có
thực hiện được điểm nào hay không, và nếu có th́ họ đă thực hiện một cách ngay
thẳng hay ṿng vèo hoặc bằng những xảo thuật ma quỷ !
1. Điểm thứ nhất - ÂN XÁ CHO TẤT CẢ CHÍNH TRỊ PHẠM. Sau ngày miền Bắc VN rơi hẳn
vào tay của HCM và
đảng CSVN, số phận của các tù binh chiến tranh ra sao ? Tất cả binh sĩ từ binh
nh́ cho đến sĩ quan chẳng may bị quân CS bắt trong cuộc giao tranh đều bị giam
giữ, đày ải trong các trại tập trung khổ sai tận các miền rừng núi âm u giá lạnh
suốt khoảng thời gian trên dưới 20 năm. Nếu Liên Xô có địa ngục Tây Bá Lợi Á th́
HCM cũng có trại âm phủ Lư Bá Sơ để giam cầm, đày đọa, không cần xét xử, không
cần bản án. Một anh lính quèn cũng không tha, nói ǵ tới chuyện ân xá các chính
trị phạm, vốn đă được HCM và các đồ đệ liệt vào hạng phản động cần phải nhốt lại
đó chờ ngày tiêu diệt, bất chấp công pháp quốc tế, bất chấp những lời kêu gọi
khẩn thiết của Hội Ân Xá Quốc Tế ! Từ sau ngày đám môn đệ của HCM cưỡng chiếm
Miền Nam VN, t́nh trạng tù đày trở nên khủng khiếp hơn vạn lần. Những người bị
VC coi là "Ngụy quân" hay "Ngụy quyền" đă bị lùa vào các trại lao động khổ sai
từ ngày ấy, đến nay (1990) vẫn c̣n có người chưa được thả về với gia đ́nh. Tất
cả chỉ v́ cái tội đi lính, làm việc trong "chế độ cũ" hay có lư tưởng Quốc Giạ
Trại cải tạo mọc lên đầy khắp nước, từ đỉnh Lào Kai sát biên giới Trung Cộng,
tới tận mũi Năm Căn, Sông Ông Đốc, đầm lầy đỉa lội như bánh canh. Đâu đâu cũng
có những người tù "Ngụy" g̣ lưng kéo gỗ súc hoặc cúi đầu kéo cày thay trâu !
Đưới thời Pháp thuộc, CS kêu gào ân xá cho đồng bào ruột thịt đấu tranh cho dân
tộc bị Pháp bắt giam v́ tội chống lại nhà nước Lang Sạ Trong thâm tâm, CS chỉ
muốn thu phục cảm t́nh của đồng bào để dọn đường cho các hoạt động khuynh loát
của chúng về sau nàỵ Điều này đă được chứng minh là sau khi CS nuốt trọn cả nước
VN, chúng không hề dung tha cho những người bất đồng chính kiến, những người đă
từ chối chấp nhận ư thức hệ CS. Dù ǵ đi nữa th́ đây cũng là những đồng bào ruột
thịt của ḿnh, cùng da vàng máu đỏ, cùng ngôn ngữ, cùng tổ tiên, cùng chủng tộc,
sao lại nỡ nhẫn tâm đày ải cho chết dần chết ṃn trong các trại tập trung lao
động khổ sai gớm ghiếc ? Trong khi HCM và đám môn đệ giả nhân giả nghĩa yêu sách
thực dân Tây trả tự do cho những người Việt đấu tranh chống Pháp, th́ họ lại
không hề nương tay một chút nào đối với đồng bào của ḿnh. Đă không ân xá, lại
c̣n dựng thêm nhiều trại tù để giam cầm không cần xét xử đủ loại tù : tù chính
trị, tù kinh tế, tù trí thức, tù tôn giáo, tù chụp mũ, tù v́ không đủ tiền nộp
thuế, tù vượt biên, v.v...
T́nh h́nh lao tù ở VN do đó trở nên khủng khiếp đến độ làm rúng động lương tâm
nhân loạị Hội Ân Xá Quốc Tế đă nhiều lần lên tiếng kêu gọi Phạm văn Đồng xét trả
tự đo cho những tù chính trị đă bị VC giam cầm vô hạn định. Trước áp lức của
công luận thế giới, và cũng để phần nào xoa dịu mức độ căm phẫn, CSVN buộc ḷng
phải nhân nhượng đôi chút, nhưng sau đó th́ đâu lại vào đấỵ Chúng lật lọng tráo
trở, sáng tha tối bắt lại, và cứ thế tiếp tục giam giữ không ấn định hạn tù, măi
cho đến hôm nay (1990).
Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, các Hội Đoàn tôn giáo ở
các nước Âu-Mỹ, nói chung là các quốc gia tôn trọng quyền sống của con người,
đều đă bất lực trước thái độ ngoan cố của HCM và đám đê. tử của hắn. Đảng CSVN
không hề đếm xỉa ǵ đến nhân quyền và dân quyền của người dân VN !
2. Diểm thứ hai - CẢI CÁCH NỀN CÔNG LƯ Ở ĐÔNG DƯƠNG BẰNG CÁCH CHO NGƯỜI BẢN
XỨ ĐƯƠ.C HƯỞNG NHỮNG BẢO ĐẢM VỀ MẶT LUẬT PHÁP NHƯ NGƯỜI ÂU CHÂU, BĂI BỎ CÁC T̉A
ÁN ĐẶC BIỆT DÙNG LÀM CÔNG CỤ KHỦNG BỐ VÀ ÁP BỨC ĐỐI VỚI BỘ PHẬN TRUNG THỰC NHẤT
TRONG NHÂN DÂN AN NAM. HCM đ̣i có những bảo đảm pháp luật cho người dân An Nam,
nhưng khi Hồ lên cầm quyền th́ người dân VN được Hồ ban bố cho những bảo đảm
pháp luật nào ?
- Công an VC bắt người không cần lệnh của Ṭa Án, giam giữ người không cần xét
xử.
- Bị cáo không có quyền biện hộ v́ không có hệ thống luật sư (chỉ mới sau này,
sau khi "đổi mới tư duy", mới có luật sư, nhưng là luật sư do nhà nước chỉ định,
căi theo chỉ thị đă viết sẵn).
- Lập pháp, hành pháp, tư pháp chỉ là một, không có ranh giới bất khả xâm phạm.
Ông Bí thư ra "luật" và tùy ư thi hành luật ấy hay không v́ khi có phiên "ṭa án
nhân dân" th́ cũng chính ông ta ngồi ghế chánh án ! T́nh h́nh "bao thầu" này rất
phổ biến từ cấp xă, huyện lên đến tỉnh và thành phố.
- Nơi nào có tổ chức Kiểm Sát nhân dân, Ṭa án nhân dân th́ thành phần xử án chữ
nghĩa chẳng đầy... lá mít. Những quan chánh án đẳng cấp như Năm Nhọn, Hai Lá,
Sáu Phèn, v.v... đều chỉ học tới lớp 5, lớp 6 hay chỉ học xong tiểu học là cùng
!
- Người dân VN chỉ được quyền sinh sống, lao động dưới sự "bảo vệ chặt chẽ" của
một đám công an mặt mày lúc nào cũng hậm hực, đằng đằng sát khí. "Hộ khẩu" là
phương thức "quản lư con người" hữu hiệu nhất. Con cái đến thăm nhà cha mẹ, ở
lại đêm, không đến Phường đăng kư tạm trú một đêm, chắc chắn sẽ được công an
chiếu cố.
- Luật ở "tù lây" cũng được ban hành ! Mỗi nhà được lệnh phải "ḍm chừng" hàng
xóm và phải kịp thời báo cáo những sinh hoạt "mờ ám" của họ, nếu không, khi công
an phát giác được, sẽ bị coi như đồng lơa và đi tù... lây !
- Ban đêm đi đường vắng, bị du đảng trộm cướp tấn công, kêu la rát cổ họng,
chẳng thấy công an nào tới can thiệp, nhưng khi nhà có giỗ, có tiệc cưới, hỏi,
thôi nôi đầy tháng, là có công an tới xét hỏi giấy phép tổ chức tiệc tùng.
- Nền "công lư ba số năm" pháp triển khắp nơi và từ từ leo thang thành "công lư
chỉ và cây" !
Trên đây chỉ kể sơ qua vài "bảo đảm luật pháp" mà HCM và đảng CSVN đă ban cho
đồng bào VN ruột thịt ! Cũng trong yêu sách này, HCM đă nhấn mạnh đến việc người
Pháp phải dẹp bỏ các Ṭa Án Đặc Biệt được dựng lên với mục đích đàn áp và khủng
bố những người đấu tranh chống Pháp. Nhưng đến khi HCM nắm quyền th́ họ Hồ và
đảng CSVN đă quên mất lư tưởng đó. Hồ đă thay thế hệ thống Ṭa Án Đặc Biệt của
Tây bằng những "Ṭa Án Nhân Dân" lưu động, muốn xử án chổ nào th́ dọn gánh đến
chỗ đó, xử bằng thủ đọan "c̣ mồi" từ phía sau thúc dục dân đưa tay biểu quyết
kết án. H́nh thức Ṭa Án nhân dân ghê rợn nhất là Ṭa Án Cải Cách Ruộng Đất, một
phương tiện để đảng CSVN thực hiên những cuộc đấu tố "cày đứt đầu, chôn sống,
tra tấn đến chết" dă man nhất trong lịch sử nhân loại.
HCM và đảng CSVN chủ trương xây dựng một nền "công lư" sắt máu để bôi xóa những
liên hệ vợ/ chồng, cha mẹ/con cái, anh/em ruột thịt truyền thống của dân tộc VN.
Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, cang thường đạo lư cơ hồ tan nát dưới hệ thống
luật rừng của HCM và những người CSVN.
3. Điểm thứ ba - TỰ DO BÁO CHÍ VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN.
Lịch sử nhân loại đă ghi lại nhiều chế độ tàn bào : Tần Thủy Hoàng, Néron,
Hitler... nhưng xét cho cùng, chưa có chế độ nào vô nhân đạo bằng chế độ CSVN !
Các chế độ độc ác như Tần Thủy Hoàng, Hitler, Néron đă dùng bạo lực để bịt miệng
người dân, riêng CSVN th́ ngoài bạo lực cường quyền, họ c̣n dùng đủ trăm phương
ngh́n kế để bóp chết tiếng nói phẫn uất của người dân. Khi các chế độ tàn ác
thời xưa dùng bạo lực, người dân c̣n khôn khéo ḷn lách được, c̣n vận dụng mưu
chước, mánh khóe để phổ biến tư duy của ḿnh được, nghĩa là vẫn t́m được lối
thoát cho ngôn luận. Với CSVN, vốn bản chất thâm hiểm và nhờ đă từng sống len
lỏi với dân như những tế bào trong một cơ thể, nên chúng đă biết những mánh khóe,
phương pháp lợi dụng "kẽ hở luật pháp" của người dân. Do đó, những người dân can
đảm, lợi dụng kẽ hở luật pháp để nói lên tiếng nói của người dân mất nhân quyền/nhân
phẩm trong chế độ bạo tàn của CSVN thường không đem lại những kết quả như ư, mà
chỉ thấy những hậu quả nguy hiểm cận kề. Thật vây, nói về sử dụng mánh khóe và
thủ đoạn ma giáo th́ người dân VN làm sao đọ lại với những tên ma đầu CSVN ?
Cho nên, ngay từ khi vừa nắm quyền sinh sát tại miền Bắc, HCM đă chiếu chỉ cho
các đồ đệ áp dụng ngay chính sách "văn nghệ chỉ huy". Nhà văn chỉ cầm bút viết,
c̣n cái đầu tư duy là của đảng. Phải viết theo lệnh, theo đơn đặt hàng của đảng.
Nghệ sĩ tŕnh diễn là những con rối, ca sĩ phải hát những bài ca của đảng, nội
dung các bài ca phải là... "bước lên đầu thù, uống máu quân thù, trèo lên nóc
nhà, thừa thắng xốc tới... ", thậm chí đến cả giọng hát cũng phải là loại... "xe
lửa rú c̣i" của đảng. Trái tim của người nghệ sĩ không được ấp ủ những cảm t́nh
êm ái dịu dàng, thiết tha, mà phải là loại tim Lênin luôn luôn rực lửa căm thù !
Nói đúng ra, vào thời gian đầu nắm quyền, tập đoàn HCM đă nhượng bộ báo chí phần
nào, tạm chấp nhận một vài h́nh thái "ngôn luận có chừng mực". Sở dĩ vậy là v́
lúc Hồ mới nắm quyền, việc tổ chức c̣n bề bộn, phải dành nhiều th́ giờ cho các
việc quan trọng hơn. Lại nữa, quan thầy Nga sô phái đặc sứ Mikoyan sang Hànội để
dạy HCM và đám em út phải làm những ǵ trong thời gian đầu để củng cố chính
quyền, đặc biệt là phải biết "nới tay". Hai diễn biến nối tiếp tại Trung cộng -
Mao Trạch Đông công bố chính sách "Trăm Hoa Đua Nở" - và tại Ba Lan, công nhân
nổi loạn tại Poznan - đă khiến họ Hồ lúng túng, nên VC chưa dám đẩy mạnh cuộc
tẫy năo văn nghệ sĩ và báo chí.
Lợi dụng kẽ hở nới tay trong lúc ban đầu này, một vài tờ báo tư nhân như tờ Thời
Mới vẫn cố tiếp tục xuất bản ngày nào hay ngày nấỵ Dù đang sống thoi thóp, tờ
báo vẫn can đảm nêu ra một số vấn đề để mời đọc giả tham luận, với dụng ư biếm
nhẽ một vài lề thói sinh hoạt của CSVN. Chẳng hạn vấn đề "yêu nhau có cần tiêu
chuẩn hay không ?", rơ ràng nhằm dụng ư đả phá tệ đoan lấy chồng chỉ nhắm vào
tiêu chuẩn "cán bộ bốn túi" (cán bộ cao cấp VC mặc áo bốn túi, cán bộ cấp thấp
mặc áo hai túi).
Nhưng khai mào cho cả một chiến dịch chỉ trích đường lối của đảng, công đầu phải
dành cho "Giai Phẩm Mùa Thu" ra đời vào tháng 8 năm 1956, qui tụ những cây viết
có khuynh hướng đối kháng chủ nghĩa CS như Phan Khôi, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang,
Hoàng Cầm, Nguyễn Mạnh Tường, Quang Dũng, Phùng Quán, Hữu Loan... Sau "Giai Phẩm
Mùa Thu", nhóm này ra luôn "Nhân Văn Giai Phẩm", có định kỳ hẳn hoi.
Phấn khởi trước phong trào đối kháng, giới sinh viên đại học bắt đầu xôn xao sôi
nổi, xuất bản tờ báo chống đảng "Đất Mới". Tuần báo "Trăm Hoa" của nhà thơ
Nguyễn Bính cũng gia nhập phong trào !
Tư tưởng phê phán, chỉ trích các tệ đoan dần dần lan tới hệ thống báo đảng như
các tờ "Cứu quốc", "Mặt Trận Tổ Quốc" và "Nhân Dân". Các tờ báo này cũng bắt đầu
"có ư kiến" đối với những hành động tệ hại trong hàng ngũ cán bộ, nhất là những
vụ tham ô cửa quyền. Tuy nhiên, v́ muốn giữ chút thể diện của con nhà làm báo mà
đám gia nô này ti toe đôi chút chứ kỳ thật đám này vẫn một ḷng một dạ với đảng.
Bằng chứng là sau một vụ phanh phui chỉ trích nào đó, câu kết luận bao giờ cũng
là : "Đó chỉ là cá biệt, nhất thời, chứ bác và đảng bao giờ cũng sáng suốt !".
Nhằm dọn đường cho việc đóng cửa vĩnh viễn báo chí tư nhân, bịt miệng tất cả văn
nghệ sĩ đối kháng, HCM đă ra lệnh cho các cán bộ đảng CSVN áp dụng các thủ đoạn
sau đây :
- Khủng bố ngầm.
- Chụp mũ.
- Đóng cửa báo chí tư nhân.
- Đấu tố các văn nghệ sĩ.
HCM đă ra lệnh cụ thể như sau :
1. Cấm các cơ sở mậu dịch bán giấy in báo cho các báo đối kháng. Thủ đoạn này
không hiệu quả v́ đồng bào ủng hộ những tờ báo đối kháng nên đă giúp họ tiền để
mua giấy chợ đen.
2. Khủng bố giới phát hành báo tư nhân. Ngày 5/11/1956, báo Nhân Văn số 4 đă tố
cáo sự việc như sau : Một "khách hàng" vào hiệu sách khu Hồng Quảng hỏi :
- Ở đây có báo Nhân Văn không ? Ông chủ hiệu trả lời :
- Có, nhưng báo Nhân Văn đă "chết" rồi !
Thủ đoạn này cũng chẳng thành công v́ báo Nhân Văn được sinh viên và học sinh
mang đi bán.
3. Bưu điện không được gởi phân phối báo Nhân Văn. Hành động đê tiện này của HCM
và đồng bọn đă bị báo Nhân Văn phản pháo bằng một câu châm chích "biết đâu mấy
ông bưu điện thích Nhân Văn nên giữ lấy để đọc một ḿnh".
4. HCM và cán bộ đảng CSVN khủng bố cả đọc giả những báo đối kháng. Hàng loạt
cán bộ VC được tung ra khắp phố phường, tự tiện xông vào từng nhà một giải thích
rằng báo Nhân Văn là báo của bọn "phản động". Vụ này báo Nhân Văn cũng nói cho
đọc giả biết là cán bộ được lệnh đi nói xấu báo NV, lại đi lầm vào nhà một nhà
văn trong nhóm NV, vợ của nhà văn đó đă trả lời nhiều câu đanh thép khiến mụ cán
bộ phải câm họng.
5. Ngoài ra, HCM c̣n chỉ thị cho cấp lănh đạo công đoàn phải uy hiếp công nhân
các nhà in, buộc họ không được in báo "phản động". Tuy nhiên, báo Nhân Văn vẫn
được phát hành đều, không bị gián đoạn v́ công nhân nhà in không tuân lệnh họ
Hồ.
Khủng bố và phá hoại ngầm không có kết quả, HCM và các cán bộ đảng CSVN xoay
qua đ̣n vu khống và chụp mũ. Chúng cáo buộc tất cả văn nghệ sĩ chủ trương báo
Nhân Văn là tay sai của địch. Tờ Nhân Dân của đảng dựng đứng chuyện "Chính phủ
Miền Nam triển lăm báo Nhân Văn ở Sàig̣n". Sự thực th́ lúc bấy giờ, ở Miền Nam
không có ai đọc được một số Nhân Văn nào cả. Chỉ sau khi báo Nhân Văn bị đóng
cửa, đồng bào ở Sàig̣n mới đọc được vài số Nhân Văn do kiều bào ở Paris (Pháp)
gởi về. Có lẽ báo Nhân Dân chỉ nghe thoáng rồi đoán ṃ về việc chính phủ Miền
Nam có tổ chức vào tháng 6 năm 1956 một cuộc triển lăm những tài liệu tố cáo CS
Bắc Việt không tôn trọng Hiệp Định Genève tại Pḥng Thông Tin Sàig̣n ở đường
Catinat.
Sau vụ dựng đứng này, có lẽ HCM và đảng CSVN cũng biết ḿnh hố, nhưng ỷ lại vào
lư lẽ của kẻ mạnh, nên vẫn nhất quyết rằng các văn nghệ sĩ báo Nhân Văn là tay
sai của địch, của pḥng nh́ Pháp, của CIA Mỹ tung vào để phá rối chế đô. CSVN,
v.v...
Sau đó, HCM và đảng ra lệnh tổ chức những cuộc học tập khắp nơị Tất cả những
đoàn thể, cán binh, và cả sinh viên học sinh phải kư vào một Bản Kiến Nghị "lên
án" nhóm Nhân Văn và "yêu cầu chính phủ" phải có biện pháp trừng trị thích đáng.
Rồi dựa vào những Bản Kiến Nghị của các "tầng lớp nhân dân" đó, HCM và đảng CSVN
ra lệnh đóng cửa báo Nhân Văn, tịch thu tất cả các số báo đă phát hành. Kể từ đó,
HCM áp dụng chế độ sắt thép đối với báo chí.
Ngày 15 tháng 12 năm 1956, HCM kư một "Sắc lệnh" tước hết quyền Tự do Ngôn luận
của báo chí. Kể từ đấy, báo chí bắt buộc phải phục vụ chính quyền chuyên chính
vô sản. Mọi vi phạm sẽ bị phạt tù từ 5 năm tới chung thân khổ sai và tài sản,
nếu có, sẽ bị tịch thu.
Ngày "Sắc lệnh Báo chí" của HCM được ban hành là ngày các báo "Đất Mới", "Trăm
Hoa", "Nhân Văn Giai Phẩm" đồng loạt chết không cần cáo phó. Sau khi ban hành "Sắc
lệnh" tước đoạt quyền tự do ngôn luận của người dân VN, HCM ra lệnh cho các cán
bộ đảng CSVN bắt đầu phát động chiến dịch "đấu tố văn nghệ sĩ".
Công tác đầu tiên của chúng là đưa các văn nghệ sĩ đi "chỉnh huấn". Cũng như
trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, một số văn nghệ sĩ bị đưa đi chỉnh huấn
phải viết những tờ kiểm thảo theo sự chỉ đạo của cán bộ quản giáo, không sai lầm
nhưng quản giáo nói sai lầm cũng phải ghi là sai lầm.
Đợt chỉnh huấn đầu tiên gồm tất cả 304 văn nghệ sĩ nhưng có 4 người cự tuyệt
không đi là : Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An và Nguyễn Hữu Đang.
HCM ra lệnh bắt giam Thụy An và Nguyễn Hữu Đang vào nhà pha Hỏa Ḷ Hànộị Trương
Tửu bị cách chức giáo sư ở trường Đại Học Văn Khoa, vợ bị rút giấy phép buôn bán.
Riêng cụ Phan Khôi, v́ đă 73 tuổi, lại là người có nhiều uy tín trong nước, nhất
là đối với giới trí thức Miền Nam, nên được để yên. Tuy nhiên, cụ bị cô lập
không được tiếp ai và cấm không cho ai tới nhà thăm cụ.
Trong số người bị đày ải trong đợt "chỉnh huấn" đầu tiên này có Luật sư Nguyễn
Mạnh Tường, nay đă 81 tuổi (1990), người vừa trả lời một cuộc phỏng vấn của báo
QUÊ MẸ tại Paris vào cuối năm 1989, khi luật sư Tường được CS Hànội cho phép
sang Pháp thăm thân nhân vài tháng. Nhắc lại vụ Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp,
khủng bố, cụ cho biết bản thân cụ bị tước hết mọi chức "hờ" đang có lúc đó he+
Giám Đốc Đại Học Luật Khoa, Phó Giám Đốc Đại Học Văn Khoa, Chủ nhiệm Câu lạc bộ
trí thức, bị cắt bỏ hết mọi thứ phiếu lương thực và bị cô lập mấy chục năm không
ai dám tới gặp gở, thăm viếng hay tiếp xúc. Có thể cụ Tường là nạn nhân và nhân
chứng duy nhất trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm được phát biểu trong một nước tự do
nhân chuyến "đi phép" vừa qua của cụ tại Paris (Pháp).
Thực tế, các văn nghệ sĩ không phải đi "chỉnh huấn" hay học tập lao động mà là
bị đưa đi "an trí", được giao cho các chính quyền địa phương quản thúc như những
tên tù khổ sai để cho muỗi ṃng chích, cho họ có đủ lượng vi trùng sốt rét trong
người bởi chính HCM đă nói rằng... "từ chín năm nay, lá lách của những người đă
anh dũng chống Pháp tuy có sưng nhưng chưa... rụng" !
Bây giờ, họ bị đưa trở lại những vùng rừng thiêng nước độc mà họ đă lặn lội qua
những năm kháng chiến chống Pháp v́ cái tội dám... tự do ăn nói !
HCM và đảng CSVN đă áp dụng các biện pháp quyết liệt và tàn bạo như trên để
bảo đảm rằng sẽ không c̣n báo chí đối lập mà chỉ c̣n báo của đảng, viết theo
lệnh hay đơn đặt hàng của đảng.
Không có bút mực nào có thể mô tả hết tâm trạng đau xót cùng cực của những văn
nghệ sĩ bị tước quyền tự do tư duy và ngôn luận. Họ nghĩ, họ đă hy sinh tất cả
cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, họ đă đem lại thắng lợi cho những người
CSVN, nhưng khi CS đă đạt được mục đích th́ họ bị HCM và đảng CSVN đưa họ trở
lại những chiến khu xưa để sống nốt những ngày tàn. Các chế độ phong kiến ngày
xưa cũng chưa bao giờ bội bạc với công hầu quá thể như vậy.
Đó là t́nh h́nh "tự do ngôn luận" hơn ba mươi năm trước. Hơn ba mươi năm sau
(1990) quyền tự do ngôn luận vẫn c̣n trong ṿng kềm tỏa của đảng CSVN. Bọn nô
bộc văn nghệ vẫn được đảng dành cho độc quyền thủ đài cho đến lúc gần đây,
Nguyễn văn Linh khai mào "đổi mới tư duy" mới có những bài viết "nhẹ nhàng chỉ
trích" các tệ đoan xă hội và nạn tham ô cửa quyền, v.v... Từ thời điểm mới này,
người dân mới có đôi chút hứng thú khi đọc báo, bởi nó chứa đựng được đôi chút
phản kháng, nói lên được phần nào nổi ḷng ấm ức của người dân đă bị áp bức quá
lâu.
Tiếp nối sự nghiệp ngôn luận của Nhân Văn Giai Phẩm, đă bị bóp chết hơn 30 năm
trước của những Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán... nay những Nguyễn Chí Thiện,
Nguyễn Mậu Lâm, Trần Hữu Hải, Hoàng An Hợp, Nguyễn Hữu Thu, Nguyễn Đại Giang, và
gần đây nhất có Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Trần Mạnh Hảo
đă tập hợp nhau lại thành một đạo quân Nhân Văn Giai Phẩm mới đầy hùng khí.
Trong các tác phẩm đối kháng có chiều sâu, lên án gay gắt tính phi nhân của chế
độ CSVN, đáng kể nhất là "Tướng Về Hưu" của Nguyễn Huy Thiệp, "Những Thiên Đường
Mù" của Dương Thu Hương và "Ly Thân" của Trần Mạnh Hảo.
Tin tức về phong trào đối kháng vừa mới hồi sinh trong nước đă bay ra hải ngoại
và đă được các văn nghệ sĩ tự do chào đón với niềm phấn khởi lớn lao.
Bọn nô bộc văn nghệ của đảng, tất nhiên đă được lệnh mở chiến dịch bài bác, chụp
mũ, vu khống đoàn quân Nhân Văn
Giai Phẩm mới này bằng những lời cáo buộc cũ rích như "phản động, phản cách mạng,
hay phản quốc", v.v...
Sử dụng lực lượng văn nô đông đảo để đàn áp phong trào đối kháng không hiệu quả,
nhà nước CS xoay qua biện pháp đàn áp vũ lực, bắt người và tịch thu tác phẩm.
Sau khi đọc một bài tham luận nẩy lửa, đả kích việc nhà cầm quyền cấm đoán tự do
ngôn luận, tự do tư tưởng tại Đại Hội Nhà Văn ngày 20 tháng 10 năm 1989, nhà văn
Dương Thu Hương đă bị Lê Đức Thọ ra lệnh cho công an bắt ngay sau khi bà rời Hội
trường Ba Đ́nh trên đường về nhà. Cho đến hôm nay (biên khảo này được in giữa
năm 1990) người ta chưa biết t́nh trạng bà Dương Thu Hương ra sao, CS đă giam bà
ở đâu, và đă làm ǵ bà.
Các đồng hương đi đoàn tụ ở Úc cho biết, tác phẩm Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, sau
khi phát hành được vài ngày, đă bị tịch thu v́ tập truyện gói ghém nội dung chửi
rủa chế độ, các lănh tụ và cả chủ thuyết CS một cách cạn tàu ráo máng. Tuy nhiên,
cho đến nay (1990), nhà văn Trần Mạnh Hảo vẫn chưa bị bắt. Có thể, Mai Chí Thọ e
ngại, sau vụ bắt Dương Thu Hương, giờ lại bắt thêm một nhà văn nữa, không khéo
cuộc chiến văn nghệ đối kháng sẽ nổ to, trăm lần bất lợi cho chế độ vào thời
điểm đang có những biến chuyển bất lợi trong toàn khối CS.
Nói tóm lại, điều mà HCM đ̣i hỏi về tự do báo chí, tự do ngôn luận lúc chưa nắm
quyền, đă không hề được Hồ ban bố trong suốt khoảng thời gian dài cầm quyền cho
đến lúc Hồ xuôi tay nhắm mắt. Và hơn 20 năm sau, đám đệ tử của Hồ cũng không hé
mở chút tự do tư tưởng nào, có chăng chỉ là lớp sương mỏng màu mè có tác dụng dỗ
dành mà thôi.
Điều này chứng tỏ CSVN rất sợ báo chí, sợ tự do ngôn luận, bởi đó là lực lượng
có khả năng sách động hữu hiệu nhất, là một thứ đ̣n bẩy tư tưởng vô cùng lợi hại
cần phải khống chế. Bởi vậy, thay v́ ban bố tự do báo chí, Luật Báo Chí của CSVN
qui định hai Điều 1 và 11 như sau :
Điều 1 - "... Báo chí là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của đảng, cơ quan nhà
nước, tổ chức xă hội, là diễn đàn của nhân dân... "
Điều 11 - "... Cơ quan chủ quản báo chí là tổ chức của đảng, cơ quan nhà nước,
tổ chức xă hội, đứng tên xin phép thành lập cơ quan báo chí... "
Tính chất phi dân chủ đă lộ rơ qua hai điều luật ghi trên đồng thời, người ta
cũng thấy quá rơ độc quyền thông tin và độc quyền ngôn luận của đảng.
Tại một trại cải tạo ở Lào Cai, sát ranh giới với tỉnh Vân Nam, một cán bộ tư
tưởng của đảng CSVN đă nói với kư giả Dương Tử trong một cuộc phỏng vấn : "Ng̣i
bút của các anh c̣n nguy hiểm hơn cả một sư đoàn".
Thế nên, người ta không c̣n lấy làm lạ tại sao HCM đă đ̣i hỏi tự do báo chí lúc
chưa cầm quyền nhưng không dám ban bố tự do ngôn luận cho người dân VN khi đă
nắm quyền hành trong tay.
4. Điểm thứ tư - QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI VÀ HỘI HỌP.
Lừa bịp, lật lọng, dối trá là sở trường của những người CSVN. Họ nói trắng tức
là đen hay ngược lạị Lúc c̣n ở Pháp, HCM đă đến Hội nghị Versailles để trao "Yêu
sách 8 điểm" mà Điểm thứ 4 đ̣i hỏi Pháp phải cho nhân dân Đông Dương quyền "tự
do lập Hội và hội họp".
Sau này, khi HCM về nước và cướp được chính quyền th́ thay đổi hẳn lập trường.
HCM đă "đ̣i" như vậy nhưng sư.
thực không "muốn" như vậỵ Dưới "chế độ Búa và Liềm", bất cứ ai tự ư lập Hội hay
tự ư hội họp sẽ tức khắc bị bắt đi tù ! Hệ thống công an của đảng CSVN ngày đêm
ŕnh rập và chụp mũ khi cần để bắt những phần tử mà HCM và Bộ Chính trị nghĩ là
có khuynh hướng đối lập. Những người bị bắt đều bị đưa đi "an trí" rải rác tại
những nơi xa xôi hẻo lánh, bị giam cách biệt nhau, để rồi bỏ thây nơi những vùng
mạn ngược, rừng thiêng nước độc, rắn rết muỗi ṃng, hay bị giam tại ngục Lư Bá
Sơ, tay xích chân xiềng, không có mảnh áo che thân, ḿnh trần truồng như nhộng.
Chế độ ngục tù của CSVN đă nói lên bản chất bạo tàn, ác độc của HCM, trong mục
đích củng cố chính quyền CS do Hồ
cầm đầụ Cho đến ngày nay (1990) nhà ai có đám ma, đám giỗ, lễ hỏi, lễ cưới, sinh
nhật, thôi nôi, đầy tháng, cần mời khách từ năm bảy người trở lên đều phải làm
đơn xin phép chính quyền địa phương, chứ không được tự do nhóm họp dù chỉ nằm
trong phạm vi quan hôn tang tế.
C̣n chuyện lập Hội lập Đảng th́ đừng bao giờ nghĩ tới dưới chế độ HCM. Ngoài
đảng CS của Hồ ra, Điều 4 trong hiến pháp của Hồ không chấp nhận một đảng phái
nào khác. C̣n Hội đoàn th́ có nhiều nhưng là những Hội đoàn nằm trong hệ thống
đảng CSVN, kỳ dư không có Hội đoàn tư nhân nào cả. Đây là một điều tuyệt đối cấm
kỵ trong chế độ CSVN.
5. Điểm thứ năm - QUYỀN TỰ DO XUẤT NGOẠI VÀ ĐI DU LỊCH NƯỚC NGOÀI.
Ngày trước, HCM đă yêu cầu Pháp ban bố tự do cho đồng bào ḿnh, nhưng đến khi
trở thành Chủ tịch của nước CHXHCNVN th́ chính HCM kà kẻ đă tiêu diệt mọi quyền
tự do của người VN !
Dưới thời Pháp thuộc, HCM đ̣i hỏi nhà cầm quyền Pháp phải dành cho người dân bản
xứ quyền tự do xuất ngoại và quyền tự do đi du lịch nước ngoàị Đó là một đ̣i hỏi
chính đáng thuộc phạm vi nhân quyền.
Nhưng cũng như các đ̣i hỏi ghi trên, đ̣i hỏi của Hồ cũng bị chính Hồ xóa bỏ khi
nắm quyền trong taỵ Chế độ áp bức của CSVN được gọi là chế độ "sau bức màn tre".
Dù là màn tre, nhưng mức độ kềm tỏa không thua ǵ bức màn sắt, nếu không muốn
nói là ghê gớm hơn. Một con muỗi cũng không được lọt qua, đừng nói chi là con
ngườị CSVN rất sợ thế giới bên ngoài biết được những ǵ đang xảy ra đằng sau bức
màn tre, cho nên tất cả các biện pháp gắt gao nhất đă được huy động để ngăn chận
mọi thông tin không cho lọt ra ngoàị Con người, nhất là con người sống trong chế
độ CS là một nguồn thông tin lớn laọ Như thế, làm sao CSVN có thể cho họ tự do
xuất ngoại được ?
Vốn đa nghi hơn Tào Tháo, CSVN nh́n quanh ḿnh, thấy đâu đâu cũng là "địch" và "điệp".
Họ sợ "điệp" từ ngoài vào, họ sợ "địch" từ trong rạ Cho nên, chuyện tự do xuất
ngoại là chuyện không thể có được trong chế dộ CSVN. Kể cả chuyện xuất dương du
học tại các nước ngoài quỉ đạo CS cũng là chuyện không tưởng (1990). Ngay cả
chuyện du học tại các nước "XHCN anh em" cũng rất hạn chế, bởi lẽ CS luôn luôn
chủ trương ngu dân, dân càng học ít càng dễ trị, cán bộ càng ít học càng dễ điều
động, khiển dụng. Ai c̣n lạ ǵ chủ trương "chỉ có đảng mới có quyền có trí tuệ"
của đảng CSVN !
Dưới sự thống trị của HCM và đảng CSVN, sự đi lại trong nước, từ tỉnh này sang
tỉnh nọ, từ địa phương này sang địa phương khác cũng không phải là chuyện dễ
dàng, huống hồ chi chuyện ra nước ngoài dù bất cứ lư do ǵ.
Trong những năm gần đây, v́ những áp lực từ các tổ chức ở hải ngoại, đ̣i hỏi
CSVN phải thực thi nhân quyền tại VN, v́ t́nh trạng kinh tế của VC suy sụp đến
mức không c̣n cách nào khác hơn là hé mở bức màn tre, bất đắc dĩ phải chấp nhận
sự tới lui ra vào, mới mong kiếm được chút ngoại tệ và chiêu dụ nguồn đầu tư của
người ngoại quốc, v́ VC vừa "chợt tỉnh cơn mê", hiểu rằng các bộ óc già nua,
giáo điều và thiển cận trong Bắc Bộ Phủ không đủ kiến thức để lèo lái VN trong
thời đại kỹ thuật này, cần phải đào tạo những cán bộ trẻ "có khả năng" lănh đạo
đảng trong tương lai, nên CSVN bị bắt buộc phải nới nang đôi chút trong vấn đề "đi
nước ngoài".
6. Điểm thư sáu - QUYỀN TỰ DO GIÁO DỤC VÀ THÀNH LẬP CÁC TRƯỜNG KỸ THUẬT
CHUYÊN NGHIỆP Ở TẤT CẢ CÁC TỈNH CHO NGƯỜI BẢN XỨ.
Về quyền tự do giáo dục, thời Pháp cai trị toàn cơi Đông Dương, không đến nổi có
sự cưỡng ép giáo dục theo một khuôn thức nàọ Nhà nước Pháp không hẳn giữ độc
quyền mở trường dạy học. Bằng chứng là, ngoài hệ thống các trường của nhà nước,
vẫn có ít nhiều học đường của tư nhân hay các tổ chức tôn giáo như : Trường các
Sư Huynh (École des Frères/Taberd), Trường các Sơ (Providence), Trường các Bang
Hội Trung hoa (Quảng đông, Phúc Kiến, Triều châu, v.v... ), Lycéum Nguyễn văn
Khuê, v.v...
Riêng chuyện thiết lập một trường kỹ thuật và chuyên nghiệp tại mỗi tỉnh th́ nhà
cầm quyền Pháp đă thiết lập tại các tỉnh quan trọng như Cần Thơ, Mỹ Tho, Long
Xuyên, Biên Ḥạ Riêng tại Sàig̣n và Hànội, Pháp đă mở nhiều trường đại học như :
Đại học Y Khoa, Dược khoa, Luật khoa, Văn khoa.
Tuy nhiên, chúng ta đều nhận thấy là thực dân Pháp không đẩy mạnh chính sách
nâng cao dân trí cho người dân thuộc địạ Họ chủ trương mở mang kiến thức người
dân đến mức độ vừa đủ để phục vụ cho chế độ thực dân tại Đông Dương mà thôi.
HCM đă thấy thực dân Pháp không có thực tâm cho người dân các thuộc địa học hành
tới nơi tới chốn nên đă nêu ra yêu sách trên, không ngoài mục đích mưu cầu học
vấn dồi dào cho người dân VN. Đó là một lư tưởng đáng khen.
Nhưng tiếc thay, khi ngồi trên tuyệt đỉnh của quyền lực, HCM quay lại phản bội
lư tưởng của ḿnh. Sau này, người dân VN
mới biết HCM không thể làm khác hơn v́ ông ta chỉ là một công cụ/tay sai của
Cộng sản Quốc tế. Nhiệm vụ của Hồ là thực hiện việc xích hóa toàn cơi Đông Dương
và cho vết dầu đỏ loang dần khắp vùng Đông-Nam-Á. CS chủ trương ngu dân, ngu cán
bộ để giảm thiểu nguy cơ đối kháng và bảo đảm mức độ phục ṭng. Điều này ai cũng
rơ là HCM đă cấm không cho các trường tư mở cửạ Nên sau khi CSVN chiếm trọn miền
Nam, VC đă đóng cửa các trường tư và dùng các cơ sở này làm nơi ăn ở cho cán bộ.
Tác giả quyển sách này đă bị CS buộc phải kư biên bản bàn giao hai trường trung
học :
1. Trường Trung học Tư Thục Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp HƯNG ĐẠO, toạ lạc tại số 22,
đại lộ Lê Lợi, Huế.
2. Trường Trung học Tư Thục THIÊN B̀NH, tọa lạc số 9 đường Ḥa B́nh, thành nội
Huế.
Rồi sau đó, VC sử dụng các cơ sở này vào những mục đích khác. Bên ngoài, CSVN
không đóng cửa các trường công lập,
không giới hạn mở thêm các phân khoa đại học, nhưng CSVN t́m cách ḱm hăm mức
phát triển học vấn qua chính sách gạn lọc
lư lịch trong các kỳ thi, bỏ bê trường sở trong t́nh trạng hư nát, lơ là đối với
lời kêu đói của tập thể giáo chức,
v.v....
Tất cả những thủ thuật này, cộng thêm t́nh h́nh kinh tế đói khát đă tạo thành
một thứ động lực thôi thúc học sinh bỏ học. HCM không quan tâm tới chuyện càng
ngày số học sinh càng ít đi, trái lại c̣n rất vừa ư v́ t́nh trạng này hợp với
chủ trương thâm độc của chủ nghĩa CS là đảng phải nắm độc quyền trí tuệ. Bởi vậy,
người hiểu được bản chất CS đă không lấy làm lạ tại sao khi nắm quyền cai trị,
HCM đă không thực hiện những điều mà họ Hồ đă đ̣i hỏi thực dân Pháp phải làm như
"Thiết lập tại mỗi tỉnh một Trường kỹ thuật và chuyên nghiệp".
Mặc khác, đảng cũng nắm luôn độc quyền giáo dục. Không một tư nhân nào có quyền
xen vào hay chia sẻ quyền giảng dạy cả. Không có một hệ thống trường tư nào được
chấp nhận. Không một giáo án, giáo tŕnh, phương pháp, đề tài nào, môn học nào
được giảng dạy mà không có sự kiểm soát ưng thuận của đảng.
7. Điểm thứ bảy - THAY THẾ CHẾ ĐỘ RA SẮC LỆNH BẰNG CHẾ ĐỘ RA CÁC ĐẠO LUẬT.
Dưới thời thực dân Pháp đô hộ toàn cơi Đông Dương, viên Toàn quyền cai trị ba
nước này bằng các sắc lệnh. Điều này có nghĩa là ông ta có toàn quyền ban hành
các pháp lệnh mà không cần phải tham khảo và thông qua hay xin được phê chuẩn
bởi bất cứ một cơ quan lập pháp dân cử nào, tức là không hề có chế độ dân chủ
cho thuộc địa Đông Dương. Người dân bị trị không được quyền có tiếng nói, không
được quyền có ư kiến đối với những pháp lệnh do một cá nhân cầm quyền ban rạ
Trong khi đó, tại chính quốc Pháp, nước Cộng Ḥa Pháp phải trụ h́nh trên một nền
tảng dân chủ chặt chẽ với sự phân quyền rơ rệt : Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp.
Trong một phạm vi nào đó, Tổng thống Pháp được quyền kư sắc lệnh nhưng trong đa
số các trường hợp, Sắc lệnh của Tổng thống phải thông qua Quốc hội, tức là phải
có sự phê chuẩn của người dân qua các đại diện của ḿnh tại cơ quan lập pháp nàỵ
Chế độ đạo luật qui định rằng các đại biểu dân cử cũng có quyền soan thảo các
đạo luật, sau khi đă tham khảo ư kiến người dân, và các dự luật này cũng phải
qua tiến tŕnh phê chuẩn tại Quốc Hội trước khi trở thành luật, và trao cho Tổng
thống ban hành. Tiến tŕnh dân chủ này không được áp dụng tại các nước thuộc địạ
Số phận người dân bị trị hoàn toàn tùy thuộc vào quyền cai trị độc nhất của một
cá nhân, nhân đức th́ nhờ, độc ác th́ chịu. Khi chưa cầm quyền, HCM đă đ̣i hỏi
thực dân Pháp phải hủy bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, và thay thế bằng chế độ
đạo luật để người dân có được chút quyền bày tỏ ư kiến đối với những biện pháp
liên quan trực tiếp tới đời sống của ḿnh. Nhưng khi HCM đă là chủ nhân ông ở
miền Bắc th́ Hồ và đám môn đệ chẳng những đă hoàn toàn xóa bỏ lư tưởng đó mà c̣n
bóp chết dân chủ tự do bằng một chế độ công an độc tài sắt máụ HCM và đảng CSVN
đă cai trị bằng những sắc lệnh và một lực lượng công an vô cùng hung ác, lúc nào
cũng gh́m súng sau lưng người dân. Mọi ư niệm về dân chủ nghị viện đều bị HCM và
những người CSVN bóp chết từ trong trứng nước. Thực ra, chế độ của Hồ cũng có
cái Quốc hội để tô chút phấn son dân chủ nghị trường, nhưng thực tế ai cũng biết
rơ là những kẻ được bầu vào cái Quốc hội đó đều đă được đảng CSVN chọn trước.
Tóm lại, đă không ban bố tự do dân chủ, HCM và đảng CSVN c̣n t́m mọi cách bóp
chết nó bằng một chế độ công an tri. sắt máụ Một lần nữa, HCM đă phản bội lại
những ǵ ḿnh đă kêu gào đ̣i hỏi.
8. Điểm thứ tám - CÓ ĐẠI BIỂU THƯỜNG TRỰC CỦA NGƯỜI BẢN XỨ DO NGƯỜI BẢN XỨ BẦU
RA TẠI NGHỊ VIỆN PHÁP ĐỂ GIÚP NGHỊ VIỆN BIẾT ĐƯƠ.C NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI BẢN XỨ.
Ở điểm thứ bảy, HCM đă yêu cầu thực dân Pháp cai trị bằng chế độ đạo luật là
nhằm dụng ư chuyển tiếp sang đ̣i hỏi thứ tám yêu cầu cho dân bản xứ được bầu đại
diện của ḿnh vào Nghị viện Pháp. HCM muốn Pháp ban bố chút quyền dân chủ cho ba
nước Đông Dương. Sự hiện diện thường trực của người bản xứ tại cơ quan lập pháp
cũng bảo đảm được phần nào quyền lợi của người dân trong vùng bị cai trị. Đ̣i
hỏi của Hồ vô cùng chính đáng. Nó tiêu biểu cho tinh thần thượng tôn dân chủ.
Nhưng buồn thay, khi HCM và tập đoàn CSVN nắm quyền cai trị đồng bào ruột thịt
của ḿnh, th́ tinh thần thượng tôn dân chủ dó nơi con người HCM không c̣n nữạ Cứ
nh́n thành phần đại biểu trong cái gọi là Quốc hội nước CHXHCNVN th́ rơ. Chỉ gồm
toàn thành phần đảng viên trung kiên, hay tối thiểu cũng phải là những đoàn viên
hoặc đối tượng đảng. C̣n nữa, sinh hoạt chính trị của đám đại biểu Quốc hội này
tại diễn đàn nghị viện có thể thu gọn lại có mỗi một động tác duy nhất là "đưa
tay biểu quyết" theo lệnh ngầm và nhịp nhàng ăn khớp với những cánh tay c̣ mồi
đưa lên. Tuyệt nhiên, không có đại diện chân chính của người dân thấp cổ bé
miệng. Như vậy, có khác ǵ Nghị Viện Pháp không có đại diên dân cử của người bản
xứ. Thêm một lần nữa, điều mà HCM đ̣i hỏi thực dân Pháp ban bố, lại chính là
điều mà Hồ từ chối thực thi khi nắm trọn quyền hành. Nói chung, tất cả 8 điều
trong Bản Yêu Sách mà HCM đă đ̣i thực dân Pháp phải thi hành, HCM và đảng CSVN
không thi hành được một điều nào cả, không ban bố một chút quyền tự do dân chủ
sơ đẳng nào cho chính đồng bào ruột thịt của ḿnh. Như thế, bản chất lật lọng và
giả nhân giả nghĩa của con người gian hùng ấy đă tự phơi bày rơ mồn một dưới ánh
sáng mặt trời. Nói cho đúng, Bản Yêu Sách 8 điểm không phải là sáng kiến và ư
tưởng của HCM mà thực sự là của cụ Phan Văn Trường. Cụ Phan đă soạn thảo bản Yêu
Sách 8 điểm trên đây dựa theo "Đường Hướng Dân Chủ 14 điểm" của Tổng Thống Hoa
Kỳ Wilson. Nguyễn Tất Thành (HCM) - lúc ấy được phép xử dụng bí danh chung là
Nguyễn Ái Quốc - là người được "Hội Những Người An Nam Yêu Nước" ủy thác việc
chuyển Bản Yêu Sách đến Hội Nghị Versailles. Dẫu sao, thời gian này Thành vẫn
c̣n mang lư tưởng tranh đấu v́ quốc gia dân tộc, chưa bị chủ thuyết CS lung lạc
bao nhiêu, cho nên nội dung Bản Yêu Sách 8 điểm nhất định Thành phải nắm vững và
hoàn toàn tán đồng. Nói như vậy để nhấn mạnh là, dù không phải là tác giả đề
xướng, HCM đă hiểu rơ ư nghĩa sâu xa của việc ḿnh làm, hiểu rơ lư tưởng dân chủ
lồng trong "Bản Yêu Sách 8 Điểm". Vậy mà khi đă nắm quyền sinh sát trong tay,
HCM đă trắng trợn phản bội lư tưởng ấy, và nhân dân Việt Nam, đă bị áp bức dưới
chế độ thực dân Pháp, nay trong tay HCM và đảng CSVN, mức độ áp bức càng tăng
gấp bội, người dân không được hưởng một chút quyền tự do dân chủ nào cho đến
ngày hôm nay (1990).
(HẾT)