Ngày 2 tháng 9, đọc lại Trần Dân Tiên (phần I)
Trần Dân Tiên và cuốn Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ Tịch
Trích chương 9, Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp(*) mới
tái bản 2006.
Minh Vơ
Năm 1976 tại Sài G̣n lần đầu tiên xuất hiện cuốn Những
sự kiện lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam trong đó hết lời
ca tụng “văn tài của Bác” (1). 9 năm sau, năm 1985, xuất
hiện cuốn sách của Hà Minh Đức, Tác phẩm văn học của Hồ
chủ tịch, với bài tựa của Nguyễn Khánh Toàn. “Văn tài”
và “tác phẩm văn học” mà các tác giả nói đến được dẫn
chứng một phần bằng cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt
động của Hồ chủ tịch của tác giả Trần Dân Tiên và đă có
một bản dịch tiếng Pháp được gửi sang Miến Điện ngay
trong năm đó (2).
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch do Nhà
Xuất bản (Nxb) Văn Học Hà Nội tái bản năm 2001 gồm 168
trang, không ghi thời gian xuất bản lần đầu, nhưng bản
lưu trữ ở thư viện Sài G̣n đường Lư Tự Trọng (Gia Long
cũ) ghi xuất bản lần đầu năm 1948. Bản do Nxb Thanh Niên
tái bản năm 2000 tại Sài G̣n gồm 210 trang cũng ghi xuất
bản lần đầu năm 1948.
Hồ Chí Minh được các tác giả xưng tụng như một “nhà
văn hóa lỗi lạc”, ngoài tính cách “lănh tụ vĩ
đại” và “cha già dân tộc kính yêu”.
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của
Trần Dân Tiên mở đầu bằng lời tác giả kể lại lư do dẫn
đến cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh và việc h́nh thành tác
phẩm như sau:
Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn
viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa nhưng măi đến nay chưa có người nào thành công.
Nguyên nhân rất giản đơn: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không
muốn nhắc lại thân thế của ḿnh.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, lần đầu tiên tôi trông thấy Hồ
Chủ Tịch. Đó là một ngày lịch sử. Ngày hôm ấy, đứng
trước rất đông quần chúng hoan hô nhiệt liệt, Hồ Chủ
Tịch trang nghiêm đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.
Ngày thứ hai, tôi viết thư xin phép được gặp Hồ Chủ Tịch.
Ngay chiều hôm ấy, tôi rất sung sướng tiếp được thư trả
lời của Hồ Chủ Tịch viết như thế này: “Ngày mai 7 giờ 30
mời chú đến. Kư tên: Hồ Chí Minh”
Thư trả lời chóng, nội dung giản đơn và giờ hẹn gặp sớm
khiến tôi rất băn khoăn.
Sáng ngày mồng 4 tháng 9, 7 giờ 25, tôi đến dinh Chủ
Tịch. Đúng 7 giờ 30 một người thanh niên đến pḥng khách,
lễ phép nói với tôi: “Hồ Chủ Tịch đang đợi anh ở pḥng
làm việc”... Tôi bước vào pḥng kính cẩn chào. Chủ Tịch
đứng dậy bắt tay tôi và mời ngồi trước bàn làm việc.
Trước hết, Người hỏi thăm sức khỏe của thầy mẹ tôi và
sau mới nói: “Tôi có thể giúp chú việc ǵ nào?” Tôi nói
rơ mục đích của tôi. Chủ Tịch chú ư nghe. Sau khi tôi
nói xong, Người cười và đáp:
– Tiểu sử. Đấy là một ư kiến hay. Nhưng hiện nay c̣n
nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói
khổ. Sau tám mươi năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ
chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công
việc hết sức cần kíp đi đă! C̣n tiểu sử của tôi... thong
thả sẽ nói đến!
Tôi như chạm phải một bức tường. Nhưng tôi không thất
vọng. Về sau, tôi đặt kế hoạch khác... nghĩa là hỏi
những người trước kia, trong một thời gian nào đó, đă
trực tiếp hoặc gián tiếp biết Hồ Chủ Tịch, không cứ
người đó là người Việt Nam hay người ngoại quốc để lấy
tài liệu viết tiểu sử. Phương pháp này rất khó khăn và
cần nhiều thời giờ nhưng may ra th́ thành công. Cuối
cùng kết quả chứng tỏ rằng cách ấy là đúng. Tôi theo
phương pháp ấy, sau hai năm làm việc, cuối cùng có khá
tài liệu để viết một ít chuyện về Hồ Chủ Tịch. (3)
Tác giả không nói rơ bằng cách nào nhưng đă gặp được ít
nhất 7 người gồm một nhà trí thức ở Sài G̣n tên Lê, một
ông tên Mai ở Hải Pḥng, một ông tên Dân ở Nha Trang,
một ông tên Bốn có biệt danh Bốn Sẹo ở Quỳnh Lâm, một
ông tên Thanh và một ông tên Nam ở Vinh, một ông không
rơ tên từng quen “ông Nguyễn” ở Paris. Bảy người này
cung cấp cho tác giả những ǵ họ biết về một người mà họ
cảm phục ngay lần đầu gặp gỡ, dù người đó chỉ là chàng
trai trôi giạt giữa Sài G̣n, một anh Ba quê mùa làm phụ
bếp dưới một con tàu hoặc một người vất vả vật lộn với
cuộc sống...
Tác giả cho biết “tôi chỉ ghi chép cẩn thận những
mẩu chuyện giữ nguyên như thế. Và đây là một tiểu sử
trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không
bày đặt”. (4)
Nhà trí thức Sài G̣n kể: “Tôi gặp một thanh niên ở
Trung Bộ vào Sài G̣n... Chúng tôi lập tức trở nên đôi
bạn thân. Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi:
– Anh Lê, anh có yêu nước không?
Tôi ngạc nhiên đáp:
– Tất nhiên có chứ!
– Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp
đồng bào chúng ta. Anh muốn đi với tôi không?
Ông Lê không dám đi nhưng sau này được biết “người thanh
niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là cụ Nguyễn Ái Quốc,
là Hồ Chủ Tịch của chúng ta ngày nay” (5)
Ông Mai, nhân viên cũ trên một tàu Pháp, kể: “Nhà
bếp lo ăn cho bảy, tám trăm người cả nhân viên và hành
khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá, đến
nỗi anh Ba phải kéo lê trên sàn... Anh Ba mệt lử. Nhưng
khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết
đến 11 giờ hoặc nửa đêm... Cái ǵ đối với anh Ba cũng
mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh không ăn
được bánh ḿ và bơ. Ăn xúp th́ anh dùng nĩa”. (6)
Ông Dân có một thời gian cùng anh Ba làm thuê cho một
gia đ́nh ở bên Pháp từ ba mươi năm trước, cho biết nhờ
anh Ba khuyến khích học chữ quốc ngữ nên mới biết đọc
biết viết. Lúc gặp tác giả, ông Dân không hề biết anh Ba
chính là Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhưng trong nhà ông chân
dung Hồ Chủ Tịch treo trên bàn thờ giữa những b́nh hoa,
b́nh hương, đèn nến v́ ông là thủ quỹ của Việt Minh địa
phương và là người tin rằng không thể có Việt Nam mà
không có Việt Minh. (7)
Ông Bốn cho biết có lúc làm chung với anh Ba trên một
con tàu và khen anh Ba rất tốt với mọi người, không bao
giờ căi cọ với ai... không bao giờ uống rượu. (8)
Ông Nam trước làm cho một tiệm ăn tại Luân Đôn, gặp anh
Ba ở pḥng lau chùi th́a, nĩa và được anh Ba cho biết
mục đích sang Anh là để học tiếng Anh. Nói chung, ông
Nam biết anh Ba là một người ham học, can đảm, say mê
cách mạng nhưng không biết ǵ thêm về anh Ba sau khi anh
rời nước Anh trở lại Pháp.
Tác giả Trần Dân Tiên kể tiếp: “Một người quen “ông
Nguyễn” ở Paris đă cho chúng tôi nhiều tài liệu rất quư
báu. Ông này đă nói với chúng tôi như sau: “Lúc ấy ông
Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả v́
tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính
trị, không biết thế nào là Công Hội, thế nào là băi công
và thế nào là chính đảng” (9)
Hơn 20 trang kế tiếp được dành kể hoạt động của Hồ Chí
Minh tại Pháp từ việc tham gia đảng Xă Hội Pháp, việc
học nghề ảnh, việc viết báo tới việc tán thành gia nhập
Đệ Tam Quốc Tế tại đại hội Tours nên bị mật thám Pháp
theo dơi. Trên từng ḍng chữ, tác giả Trần Dân Tiên
không ngừng ca ngợi tinh thần v́ dân, v́ nước của ông
Nguyễn để đi tới kết luận: “Có thể nói là ông Nguyễn
suốt ngày nghĩ tới tổ quốc và suốt đêm mơ đến tổ quốc
ḿnh”. (10)
Tới đây, Trần Dân Tiên thú nhận bị mất dấu v́ ông Nguyễn
biệt tích, nhưng kể tiếp là sau đó không lâu may mắn gặp
một người bạn Pháp nên lại được nghe kể về giai đoạn ông
Nguyễn ở bên Nga. Trần Dân Tiên ghi lại là Lenin từ trần
hai ngày trước khi ông Nguyễn đến Nga. Đây là điều khiến
ông Nguyễn sửng sốt, nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại xem
xét nước Nga.
“Ông chú ư nhất đến chế độ xă hội của nước Nga. Ở
đây mọi người ra sức học tập, nghiên cứu để tiến bộ.
Chính phủ th́ giúp đỡ khuyến khích nhân dân học tập. Ở
đâu cũng thấy trường học. Các nhà máy đều có lớp học, ở
đây con em thợ thuyền có thể học nghề... để trở nên kỹ
sư... Đây là một chế độ rất hay.
Trong nông trường tập thể, mọi người làm chung và chia
sản phẩm theo công làm của mỗi người. Có một số nông
trường tập thể rất giàu mà người ta gọi là nông trường
triệu phú. Những nông trường này có trường học sơ cấp và
trung cấp, thư viện, nhà chiếu bóng, sân vận động, nhà
thương, pḥng nghiên cứu nông nghiệp, nơi chữa máy móc...
v.v. Những nông trường này đă biến thành những thành phố
nhỏ. Những người đau ốm được săn sóc không mất tiền. Đây
cũng là một điều ông Nguyễn hết sức phục... V́ ông
Nguyễn rất yêu trẻ con nên ông nghiên cứu kỹ vấn đề nhi
đồng ở Liên Xô.
Lúc mới đẻ, mỗi đứa trẻ được giúp tiền may quần áo, được
uống sữa lọc trong chín tháng không mất tiền. Mỗi tuần
thầy thuốc đến thăm nhiều lần... Những đứa trẻ ngoài
chín tháng có thể gửi ở những vườn trẻ, có thầy thuốc
chăm sóc... Có thể gửi trẻ vào vườn cho đến tám tuổi.
Đến tám tuổi, trẻ em bắt đầu đi học. Học sinh mỗi buổi
sáng được một bữa ăn uống không mất tiền. Ngoài trường
học th́ có đội thiếu nhi chăm sóc các em... Nói tóm lại,
cái ǵ tốt nhất đều để dành cho trẻ em. Nếu nước Nga
chưa phải là thiên đường cho tất cả mọi người th́ nước
Nga đă là thiên đường của trẻ con...”. (11)
Cảnh sống thiên đường của nước Nga không làm cho ông
Nguyễn quên tổ quốc Việt Nam. Do đó, “Ông Nguyễn t́m
đường qua Trung Quốc để về nước. Mục đích của ông trở về
nước là để truyền bá lư tưởng mà ông đă học ở Pháp: tự
do, b́nh đẳng, bác ái”. (12)
Trần Dân Tiên kể tiếp:”Bây giờ ông Nguyễn ở Trung
Quốc, ông bắt đầu đi bán báo và thuốc lá để sống... Đọc
quảng cáo trên tờ Quảng Châu Nhật Báo, ông t́m đến làm
phiên dịch cho ông Borodin, cố vấn chính trị của bác sĩ
Tôn Dật Tiên và chính phủ Quảng Châu. Ông dịch những tờ
báo Trung Quốc ra tiếng Anh. Ông để hết tâm lực nghiên
cứu chính trị Trung Quốc...Vừa nghiên cứu vừa làm việc
để kiếm sống, ông Nguyễn vẫn ra sức làm việc cho tổ quốc
ḿnh. Ông bắt đầu tổ chức đồng bào Việt kiều ở Trung
Quốc. Tổ chức này gọi là Hội Việt Nam Thanh Niên Cách
Mạng Đồng Chí... Được sự cộng tác của Đảng Cộng Sản
Trung Quốc, ông Nguyễn tổ chức hội Liên Hiệp các Dân Tộc
bị áp bức Á Đông... Hoạt động của hội Thanh Niên Cách
Mạng Đồng Chí bắt đầu lan vào trong nước... Ông Nguyễn
mở những lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu. Những thanh
niên Việt Nam phần lớn là học sinh trốn ra dự những lớp
này để học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học
xong họ lại bí mật về nước truyền bá lư luận giải phóng
dân tộc và tổ chức nhân dân... Chính phủ Quảng Châu trở
thành Chính Phủ của toàn Trung Quốc và dời đến Nam Kinh.
Quốc Dân Đảng phản động bắt đầu khủng bố Đảng Cộng Sản
và công nông. Mặc dầu ông Nguyễn chỉ chuyên chú đến
phong trào Việt Nam, chính phủ Quốc Dân Đảng nghi ngờ
ông và muốn ám hại ông. Một lần nữa, ông lại mất tích.
(13)
Tuy nhiên, Trần Dân Tiên vẫn t́m ra ông Nguyễn đă chuyển
sang Xiêm (Thái Lan), tiếp tục hoạt động tuyên truyền
cho cách mạng giải phóng chống áp bức, chống bóc lột.
Trần Dân Tiên c̣n ghi lại nhiều giai thoại về việc dân
chúng tại Xiêm yêu mến và che chở cho ông Nguyễn thoát
khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp.
Rồi Trần Dân Tiên cho biết ông Nguyễn lại trở về Trung
Quốc để thực hiện một thành tích đặc biệt là hợp nhất
đảng Tân Việt và hai nhóm của Hội Thanh Niên Cách Mạng
Đồng Chí thành một tổ chức chung với chính cương gồm 4
điểm là dân tộc độc lập, nhân dân tự do, dân chúng hạnh
phúc, tiến tới chủ nghĩa xă hội. Trần Dân Tiên kể lại
một cách lửng lơ rằng tổ chức này có thể gọi là Hội
Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí như trước hoặc Đảng Cộng
Sản như ngày nay (14) cũng được, nhưng nhấn mạnh là lúc
đó “bọn đế quốc bịa đặt rằng những người cách mạng đó là
tay sai của Đệ Tam Quốc Tế, của Liên Xô... Đế quốc Anh
cho rằng ông Nguyễn là tay sai của Liên Xô. V́ vậy những
nhà cầm quyền Anh cũng cho ông là kẻ thù số một và cố
bắt cho được ông.” (15) Do đó, ông Nguyễn lại bị nhà cầm
quyền Anh tại Hong Kong bắt giữ và sau nhờ sự can thiệp
của một luật sư tốt bụng người Anh mới được tha. Trần
Dân Tiên dành nhiều trang kể về những ngày ông Nguyễn bị
giữ tại Hong Kong cho đến khi được thả ra và lại mất
tích. Theo Trần Dân Tiên, trong thời gian mất tích này
của ông Nguyễn, Đảng Cộng Sản Đông Dương đă triệu tập
đại hội kỳ I, phát động phong trào Đông Dương đại hội,
tổ chức nhiều cuộc băi công, biểu t́nh tuần hành ở các
thành phố lớn trong nước...
Thế rồi đại chiến thế giới bùng nổ và sau khi quân Nhật
tràn vào Việt Nam, một biến cố xẩy ra qua lời kể của
Trần Dân Tiên như sau:”Lập tức một lời kêu gọi vang
dội khắp nước Việt Nam: Nhân dân ta hăy đứng về phía
đồng minh! Đánh đuổi Nhật, Pháp, tiễu trừ Việt gian! Đấu
tranh cho độc lập Tổ Quốc! Người Việt Nam, chúng ta hăy
đoàn kết lại!”
Đó là lời kêu gọi của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh hay
Việt Minh tháng 5 năm 1941. Chương tŕnh của Việt Minh
rất giản đơn và rơ ràng. Mọi người Việt Nam đều hiểu
chương tŕnh đó, thừa nhận và ủng hộ chương tŕnh đó, v́
vậy Việt Minh phát triển rất chóng, mặc dầu bị khủng bố
gắt gao. Phong trào này do ông Nguyễn đứng đầu”.
(16)
Trần Dân Tiên mô tả t́nh cảnh sống của người dân Việt
Nam trong thời kỳ này vô cùng khủng khiếp do thực dân
Pháp cố sức đàn áp phong trào Việt Minh: “Sự đàn áp
của Pháp hết sức tàn bạo, nhiều làng bị đốt. Hàng vạn
người bị chết. Hàng trăm cụ già, đàn bà, trẻ con bị
xuyên dây thép qua bàn tay, qua bắp chân, trói lại với
nhau và bị quẳng xuống biển. Ở nhiều nơi khác, bọn Pháp
bắt người lột trần, bắt tự đào huyệt chôn sống họ... Để
đánh lạc hướng bọn mật thám, ông Nguyễn lấy tên Hồ Chí
Minh. Và từ đó, người ta gọi ông Nguyễn là cụ Hồ”.
(17)
Với tên mới, Hồ Chí Minh trở qua Trung Quốc và bị bắt
giữ, nhưng tác giả Trần Dân Tiên cho rằng Hồ Chí Minh
coi nhẹ tù đầy qua mấy ḍng ghi: “Một người bạn hỏi
Cụ: “Đời tù đầy ở Quế Lâm, cụ thấy như thế nào?”Cụ Hồ
cười nói: “Nhắc lại làm ǵ chuyện cũ!”... Và ghi
thêm chi tiết: “Trong nhà tù này, cụ Hồ được biết
Liễu Châu có tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội.
Cụ được biết rằng ḿnh bị cầm tù lâu hơn nữa v́ người ta
nghi Cụ sang Trung Quốc để phá tổ chức đó”.
Rồi Trần Dân Tiên kể: “Cách Mạng Đồng Minh Hội có
hai lănh tụ là Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần, cả
hai đều đă ở Trung Quốc từ bốn mươi năm nay. Trương Bội
Công đóng quan năm, làm việc trong quân đội Quốc Dân
Đảng. Trước kia Trương tránh liên lạc với những người
đồng hương và không tham gia một phong trào cách mạng
nào. Nguyễn Hải Thần gần bảy mươi tuổi, đă quên hết
tiếng Việt Nam. Nguyễn Hải Thần sang Trung Quốc năm 1905
với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan đă rời bỏ Nguyễn Hải Thần
từ những ngày đầu. Từ đấy Nguyễn Hải Thần làm nghề xem
số tử vi để kiếm ăn và nuôi vợ con. Nhờ nghề này, Nguyễn
Hải Thần quen biết nhiều quan lại Trung Quốc. Cũng như
Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần không hoạt động ǵ.
Nhưng sau khi cụ Phan mất, Nguyễn Hải Thần tự nhận là
người thừa kế của cụ. Trương và Nguyễn tranh nhau làm
lănh tụ” (18)
Theo Trần Dân Tiên, lúc đó chỉ c̣n khoảng một trăm người
của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội tại Quảng Tây và Hồ
Chí Minh đă đưa một số cùng về nước.
Về phong trào Việt Minh th́ Trần Dân Tiên kể Pháp-Nhật
tuyên truyền ầm ĩ, nói Việt Minh là cộng sản, nhận chỉ
thị và tiền bạc của Mạc Tư Khoa... v.v. Nhật-Pháp càng
vu khống th́ Việt Minh càng được nhân dân thương yêu ủng
hộ (19)
C̣n về Hồ Chí Minh th́ Trần Dân Tiên kể:
“Nhân dân mong đợi cụ Hồ Chí Minh (HCM). Mặc dầu đang ốm,
cụ Hồ quyết định về với nhân dân thủ đô... (20) Đối với
Hà Nội, ngày mồng 2 tháng 9 không những là một ngày vẻ
vang của Độc Lập mà c̣n là một ngày đáng yêu v́ ngày hôm
đó lần đầu tiên thủ đô Hà Nội được “mắt thấy” người con
yêu quư nhất của dân tộc Việt Nam... Nhưng cảm động hơn
cả là khi nhân dân thấy chủ tịch HCM đến, người mà nhân
dân hằng yêu mến, khâm phục và kính trọng và lần đầu
tiên nhân dân mới được thấy… nhân dân nhận thấy chủ tịch
giản dị, thân mật như một người cha hiền về với đám con.
Từ xa tôi thấy Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Chủ Tịch đội mũ vải
đă ngả màu vàng v́ mưa gió, đi một đôi dép cao su, mặc
một bộ quần áo kaki... Khi Chủ Tịch bắt đầu đọc bản
Tuyên Ngôn Độc Lập giọng sang sảng của Chủ Tịch c̣n nhắc
lại rừng núi xa xăm, chiến tranh du kích. Đọc xong một
đoạn và giữa tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô nhiệt liệt, Chủ
Tịch nói: ”Tôi nói đồng bào nghe rơ không?”. Câu hỏi
giản đơn này làm tiêu tan tất cả những cái ǵ c̣n xa
cách giữa Chủ Tịch và nhân dân và làm thành một mối t́nh
thắm thiết kết chặt lănh tụ và quần chúng. Với câu hỏi
lạ lùng này, không một ai ngờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh đă
trừ bỏ tất cả lễ tiết, tất cả h́nh thức. Chủ Tịch trở
thành “Cha Hồ” của dân tộc Việt Nam”. (21)
Và Trần Dân Tiên tiếp tục kể về việc nhân dân Việt Nam
yêu kính Hồ Chí Minh:
“Nhân dân Việt Nam muôn người như một, nghe theo lời
Hồ Chủ Tịch v́ họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ Chủ Tịch, họ
hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ Tịch. Không có ǵ so sánh được
với ḷng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lănh tụ Hồ Chí
Minh... Nhiều nhà báo và người ngoại quốc rất ngạc nhiên
trước ḷng kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị Cha
già Hồ Chí Minh... Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là
do ḷng yêu nước, yêu nhân dân của Hồ Chủ Tịch... Hồ Chủ
Tịch được nhân dân yêu mến là do ḷng hy sinh và ḷng
nhân từ của Người... Chủ tịch không bao giờ nghĩ đến
ḿnh. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân...
(22) Mọi người kính mến Hồ chủ tịch, nhất là thanh niên
và nhi đồng. Ở ngoài mặt trận khi xung phong các chiến
sĩ hô lớn: V́ tổ quốc, v́ Bác Hồ tiến lên! V́ Bác Hồ mà
những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng
tăng thêm năng suất. Đối với nhi đồng tên Bác Hồ như là
một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở
nên ngoan ngoăn... Nhân dân gọi chủ tịch là Cha Già của
dân tộc, v́ Hồ chủ tịch là người con trung thành nhất
của Tổ Quốc Việt Nam”. (23)
Trang cuối cùng, Trần Dân Tiên viết:
“Chúng tôi không có tham vọng viết một quyển tiểu sử
của Hồ Chủ Tịch. Chúng tôi chỉ mong quyển truyện này
giúp đồng bào biết vài mẩu chuyện của vị lănh tụ đă xây
dựng nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Thân thế của Hồ
Chủ Tịch gắn liền với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và sự
hoạt động của các chiến sĩ và của quần chúng. Địa bàn
hoạt động của Hồ Chủ Tịch bao la, trong nước có, ngoài
nước có. Thường lại phải hoạt động bí mật, khi ẩn, khi
hiện rất khó theo dơi mà Hồ Chủ Tịch th́ ít khi muốn nói
về ḿnh. Chúng tôi phải công phu bắt mối người này sang
người khác. Chúng tôi phải dựa vào một số các đồng chí
thường được gần gũi Hồ Chủ Tịch. Các đồng chí này thỉnh
thoảng, t́nh cờ trong những giờ nghỉ ngơi sau công tác
hay trong những lúc đi đường được nghe Hồ Chủ Tịch kể
cho ít mẩu chuyện trong đời hoạt động của Người. Trên cơ
sở đó, chúng tôi mạnh dạn viết ra tập sách nhỏ này thuật
lại vài chuyện về Hồ Chủ Tịch cho đến ngày Toàn Quốc
Kháng Chiến. Chuyện của Hồ Chủ Tịch trong và sau thời kỳ
kháng chiến mong nhiều anh chị em chúng ta sẽ tiếp tục
viết thêm”. (24)
Cho đến năm 1976, người đọc chỉ biết Trần Dân Tiên là
một cây bút đă bỏ nhiều công phu sưu tầm tài liệu về một
nhà cách mạng lỗi lạc, một người yêu nước, yêu dân, một
người luôn quên ḿnh, một người nhân từ chỉ nghĩ đến
người khác, một người giản dị trong sáng, người con ưu
tú duy nhất của dân tộc và cũng là người được nhân dân
suy tôn là cha già dân tộc, một người mà trẻ con chỉ
nghe nhắc đến tên đă lập tức trở thành ngoan ngoăn...
Con người đó là lănh tụ Hồ Chí Minh mà Trần Dân Tiên cho
biết đă phải bỏ ra hai năm t́m nhiều mối dây mới ghi lại
được một bản tiểu sử. Trần Dân Tiên tự đánh giá bản tiểu
sử là trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt,
không bày đặt. Theo Trần Dân Tiên, sở dĩ phải công phu
và mất nhiều thời gian t́m hiểu như vậy v́ Hồ Chí Minh
đă từ chối không chịu kể cho Trần Dân Tiên biết tiểu sử
của ḿnh do hiện nay c̣n nhiều việc cần thiết hơn. Rất
nhiều đồng bào đang đói khổ... Chúng ta nên làm những
công việc hết sức cần kíp đi đă! C̣n tiểu sử của tôi...
thong thả sẽ nói đến!
Năm 1976, Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam công bố
Trần Dân Tiên không phải người nào khác mà chỉ là bút
hiệu của Hồ Chí Minh. Sự xác nhận nhắm mục đích tạo nét
hào quang mới cho Hồ Chí Minh là ngoài tài đấu tranh c̣n
có cả văn tài và có thêm một tác phẩm văn học là Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.
Nhưng sự xác nhận cũng cho thấy từ 1948 tới 1976, những
người t́m hiểu về cuộc đời và con người Hồ Chí Minh ở cả
trong lẫn ngoài nước đă bị xỏ mũi bằng một tṛ bịp. Suốt
28 năm, người dân trong nước và nhiều người cầm bút ở
khắp nơi đă dựa không ít vào những mẩu chuyện của Trần
Dân Tiên khi đánh giá con người Hồ Chí Minh. Cho đến năm
2000, Duiker c̣n lập lại việc cậu bé Nguyễn Tất Thành
thấy rơ đường lối đấu tranh của các nhà cách mạng tiền
bối là sai lầm nên từ chối lời mời xuất ngoại của cụ
Phan Bội Châu. Chi tiết này do Trần Dân Tiên nêu ngay
phần đầu sách để làm tiền đề cho việc tự t́m đường cứu
nước của Hồ Chí Minh. Nhiều tác giả đă dựa vào diễn tả
của Trần Dân Tiên để cho rằng toàn thể dân chúng Việt
Nam hết sức kính yêu Hồ Chủ Tịch, luôn xưng tụng Hồ Chủ
Tịch là Cha Hồ, là Cha già dân tộc. Bernard Fall c̣n nói
Hồ Chí Minh rất giản dị, khiêm tốn nên không chịu nhận
lời xưng tụng này mà chỉ nhận ḿnh là Bác Hồ, trong khi
Halberstam quả quyết Hồ Chí Minh không hề mắc chứng bệnh
sùng bái cá nhân như mọi lănh tụ khác. Ảnh hưởng rơ nét
nhất mà Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ
Tịch lưu lại là tác động đối với sự xác định lư tưởng
của Hồ Chí Minh.
Sự đề cao ḷng yêu nước và bôi xóa mối liên hệ với Đệ
Tam Quốc Tế của Hồ Chí Minh trong cuốn sách khiến ngay
những người biết rơ Hồ Chí Minh sùng tín chủ nghĩa Cộng
Sản cũng đi tới kết luận lửng lơ kiểu Lacouture hay
Sainteny rằng đó là một người lưỡng diện, nửa quốc gia,
nửa cộng sản. Tất nhiên, ảnh hưởng của cuốn sách đối với
người chưa có dịp nhận thức sâu sát về chủ nghĩa Cộng
Sản như các đám đông đại chúng sẽ rất dễ dàng đưa tới
việc nói theo Halberstam rằng Hồ Chí Minh là một nhà ái
quốc vĩ đại của Việt Nam.
Có thể có một thắc mắc là bằng cách nào cuốn sách kư tên
Trần Dân Tiên được phổ cập tới mức đó? Trước hết, Pierre
Brocheux cho biết cuốn sách đă có bản dịch Pháp Ngữ ngay
từ năm 1948, sau đó là bản dịch Anh Ngữ và nhiều thứ
tiếng khác. Ngay trong trường hợp các bản dịch này chỉ
được một hai người biết, ảnh hưởng cuốn sách vẫn dễ dàng
truyền xa qua cách làm việc của những người cầm bút, khi
ảnh hưởng cuốn sách tác động vào chỉ vài tác giả thôi.
Chỉ cần một lời ví von của P.J. Honey rằng Hồ Chí Minh
có một phần tính cách của Gandhi lập tức có sự lập lại
của Bernard Fall rằng Hồ Chí Minh bộc trực giống Gandhi
và sau đó Halberstam quả quyết Hồ Chí Minh là một phần
Gandhi... Với cùng cung cách đó, cái h́nh ảnh do Hồ Chí
Minh tự tô vẽ qua ḍng chữ “nhân dân gọi Hồ Chủ Tịch
là Cha Già của Dân Tộc” đă được truyền nhắc để biến
dần thành h́nh ảnh thực là điều không đáng ngạc nhiên.
Nếu bảo sự việc đă được kiểm chứng bằng cảnh huống nhà
người dân nào tại miền Bắc cũng treo ảnh Hồ Chí Minh, có
nơi dân chúng c̣n thờ Hồ Chí Minh như một vị thần th́
cũng không thể quên rằng năm 1948 là lúc Hồ Chí Minh tạo
ra cái h́nh ảnh ḿnh là Cha già dân tộc chỉ mới cách cái
ngày Hồ Chí Minh phải ra trước công chúng khóc lóc biện
bạch ḿnh không hề bán nước chưa đầy 24 tháng.
Như thế, nếu người dân có tôn sùng và gọi Hồ Chí Minh là
Cha già dân tộc th́ đó chỉ là kết quả của một nỗ lực dắt
dẫn, uốn nắn thậm chí cưỡng bách nhiều năm, từ 1948 về
sau, chứ không phản ảnh t́nh cảm thực sự của toàn thể
dân chúng đối với Hồ Chí Minh, ít nhất là vào năm 1948 –
chưa kể khi Hồ Chí Minh ngồi viết sách chỉ mới ở khoảng
giữa hoặc cuối năm 1947.
Lúc đó chỉ duy nhất có một người nghĩ đến mấy chữ Cha
già dân tộc và đóng vai người khác để xưng tụng ḿnh
bằng danh hiệu ấy là Hồ Chí Minh. Lúc đó cũng chỉ duy
nhất có một người là Hồ Chí Minh diễn tả Hồ Chí Minh gồm
đủ mọi đức tính tuyệt vời như chân thành, ngay thẳng, hy
sinh, nhân ái, yêu nước, thương dân... và dùng tiếng
NGƯỜI viết hoa mỗi khi nhắc đến ḿnh để tỏ sự tôn kính
tuyệt đối.
Thực ra, 6 năm sau cái thời điểm mà Hồ Chí Minh tự diễn
tả ḿnh được toàn dân coi là Cha già dân tộc, thực tế đă
nói lên một cách cụ thể thái độ của người dân đối với Hồ
Chí Minh bằng sự trạng hơn một triệu người bỏ xóm làng,
sản nghiệp ra đi, khi miền Bắc đặt dưới sự lănh đạo của
Hồ Chí Minh. Hơn một triệu đứa con chấp nhận đương đầu
với cả cái chết để t́m cách xa lánh Cha già chắc chắn là
một sự kiện cần nh́n tới khi kiểm chứng thực chất cái
t́nh giữa cha và con mà người ta nhắc tới.
Và, có lẽ cũng cần kiểm chứng với ngay cả những đứa con
c̣n tiếp tục ở lại miền Bắc coi trong đó có bao nhiêu
phần trăm đang nuôi mong ước được ra đi hoặc thoát khỏi
sự lănh đạo của Cha già! Hăy h́nh dung lúc Hồ Chí Minh
vẽ ra cảnh ḿnh khuyên một người muốn viết tiểu sử của
ḿnh rằng “hiện nay c̣n nhiều việc cần thiết hơn. Rất
nhiều đồng bào đang đói khổ... Chúng ta nên làm những
công việc hết sức cần kíp đi đă! C̣n tiểu sử của tôi...
thong thả sẽ nói đến! cũng chính là lúc Hồ Chí Minh đang
ngồi viết tiểu sử của ḿnh và ghi đúng ḍng chữ đó! Cái
thật và cái giả trong lời nói của Hồ Chí Minh ở đây
không c̣n cần bàn tới và cán cân cũng rơ ràng nghiêng về
phía nào, giữa việc viết tiểu sử của Hồ Chí Minh với
việc Hồ Chí Minh đang quan tâm đến sự đói khổ của đồng
bào.
Dù vậy, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ
tịch rơ ràng đă có tác động dắt dẫn dư luận rất lớn. Gần
như các tác giả sau này ở cả trong lẫn ngoài nước khi
phác họa con người Hồ Chí Minh đều không qua khỏi cái
khung do Hồ Chí Minh đă dựng lên cho h́nh ảnh của ḿnh.
Cũng có thể kể thời điểm cuốn sách ra mắt đă đóng góp
rất nhiều vào việc tạo ảnh hưởng. Năm 1948, Hồ Chí Minh
chưa được dư luận quốc tế lưu tâm nhiều, chưa hề có tài
liệu nói về Hồ Chí Minh nên cuốn sách trở thành cần
thiết cho những người muốn t́m hiểu, khi vai tṛ Hồ Chí
Minh trở nên quan trọng hơn trên bàn cờ quốc tế vào đầu
thập niên 1950. Có thể bảo cuốn sách chính là tài liệu
duy nhất vào lúc đó nói về nhân vật Hồ Chí Minh, nhất là
tác giả cuốn sách đă cho biết phải dành suốt hai năm sưu
tầm tài liệu, gặp gỡ các chứng nhân và bảo đảm ghi nhận
một cách trung thực, không thêu dệt, không bày đặt.
Nội dung sách không chỉ đề cao con người Hồ Chí Minh mà
c̣n cố xóa mờ tính chất Cộng Sản của Hồ Chí Minh và đặc
biệt nhắm triệt hạ mọi tổ chức và nhân vật đấu tranh yêu
nước thuở đó.
- Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân Yên Thế bị coi là nặng
cốt cách phong kiến.
- Phan Chu Trinh bị coi là sai lầm do chỉ yêu cầu người
Pháp thực hiện cải lương.
- Phan Bội Châu bị coi là “đưa hổ cửa trước, rước beo
cửa sau” v́ dựa vào Nhật.
- Việt Nam Quốc Dân Đảng bị chê là không có chính cương
rơ ràng, chỉ lo tổ chức đám binh sĩ Việt Nam trong quân
đội thuộc địa Pháp để bạo động.
- Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội bị chê là theo Quốc
Dân Đảng Trung Hoa...
Về các nhân vật đấu tranh như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn
Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... th́ Hồ Chí Minh viết:
“Đối với bọn này, nhân dân rất khinh bỉ. Nguời ta hỏi
tại sao lại để cho hạng người này ở trong Quốc Hội đầu
tiên của nước Việt Nam? Đây là một sự nhục nhă cho chế
độ dân chủ mới... v.v. Hồ chủ tịch rất hiểu ḷng tức tối
của nhân dân đối với các “nghị viên” này. Hồ chủ tịch
giải thích cho nhân dân một cách rất giản đơn. Chủ tịch
nói: Muốn giồng khoai giồng lúa, người ta phải dùng
phân. Muốn đi đến dân chủ đôi khi chúng ta phải làm
những việc chúng ta không vui ḷng làm”. (25)
Trong khi đó, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao ḿnh liên tục
hoạt động đấu tranh, nhưng bỏ qua tất cả những hoạt động
liên hệ với Quốc Tế Cộng Sản, không nhắc tới những bài
báo từng viết về Lenin, không nhắc tới vai tṛ phụ tá
cho Borodin ở Quảng Châu, không nhắc tới những công tác
tổ chức tuyên truyền nhận lănh từ Pavel Mif và Hilaire
Noulens, không nhắc tới thời gian là Thiếu Tá Hồ Quang
trong Bát Lộ Quân Trung Cộng, thậm chí c̣n làm như không
dính tới việc thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương và
phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1929-1930...
Hồ Chí Minh c̣n nhiều lần bài bác bọn đế quốc bịa đặt
rằng những người cách mạng là tay sai của Đệ Tam Quốc
Tế... Đế quốc Anh cho rằng ông Nguyễn là tay sai của
Liên Xô... Pháp-Nhật tuyên truyền ầm ĩ Việt Minh là cộng
sản, nhận chỉ thị, tiền bạc của Mạc Tư Khoa v.v...
Các sự việc vừa kể cho thấy ǵ? Trước hết, có ba điều
liên hệ đến cuốn sách cần lưu ư:
– Thứ nhất, là Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Đảng giữa lúc
chiến tranh khốc liệt, sao Hồ Chí Minh lại dành thời giờ
làm một việc mà nhiều người, trong số có Vũ Thư Hiên,
cho là ngớ ngẩn và thừa? Có thật là thừa không?
– Thứ hai, Hồ Chí Minh muốn phổ biến cuốn sách một cách
khẩn cấp (ngay sau khi vừa viết xong, có thể là cuối năm
1947) và rộng răi ra khắp thế giới.
– Thứ ba, Hồ Chí Minh giấu nhẹm mọi dấu vết để không ai
biết chính ḿnh là tác giả. Ngay người thân cận bên cạnh
Hồ Chí Minh có lẽ cũng không mấy ai biết, c̣n người biết
chắc chắn đă nhận lệnh không được tiết lộ.
Lúc ấy, chiến tranh đang diễn ra khốc liệt với ưu thế
nghiêng về phía Pháp. Việt Minh bị đẩy lui ở nhiều nơi,
Hồ Chí Minh và chính phủ của ông phải chui lủi trong
vùng núi rừng Việt Bắc. Dư âm phản đối trong quần chúng
chưa dứt về bản Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 mà các đảng phái
quốc gia buộc tội Hồ Chí Minh nhượng bộ quá đáng do chấp
nhận cho quân Pháp vào miền Bắc.
Quan trọng hơn là dư luận chính giới Mỹ không thuận lợi
cho Hồ Chí Minh như cuối năm 1945. Hồ Chí Minh không c̣n
được nh́n như một người yêu nước mà trở thành người được
Liên Xô dùng để bành trướng thế lực ở vùng Đông Nam Á.
Quan trọng hơn nữa là lúc ấy Pháp có ư xoay chiều cuộc
chiến sang hướng ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa
Cộng Sản và vấn đề chống Cộng đă được đặt lại trong dư
luận ở nhiều nơi, kể cả vùng Pháp chiếm đóng lẫn vùng
kháng chiến. Trong cuốn sách, Hồ Chí Minh đă nhắc đến ư
hướng này của Pháp qua đoạn nói về hoạt động của Bolaert
giữa năm 1947, muốn tổ chức “mặt trận quốc gia” để chống
lại chính phủ Hồ Chí Minh. (26) Trong khi đó, chủ trương
diệt các phần tử đối lập mà Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt
Nam theo đuổi từ năm 1945 khiến đang nhen nhúm lại nhiều
tổ chức chống Cộng ở khắp hai miền Nam – Bắc.
Khung cảnh chung đó của t́nh h́nh chính trị, quân sự cho
thấy Hồ Chí Minh lâm thế hết sức khó khăn với mức độ bị
đe dọa nặng nề. Điểm tựa duy nhất có thể giúp vượt thoát
nguy cơ là chiêu bài dân tộc yêu nước. Với chiêu bài
này, Hồ Chí Minh sẽ giữ được tính chất chính nghĩa kháng
chiến chống xâm lược để dựa vào sự ủng hộ tích cực của
mọi tầng lớp dân chúng hằng khao khát giành lại chủ
quyền quốc gia từ bao nhiêu năm qua. Cũng với chiêu bài
này, Hồ Chí Minh sẽ đồng hóa được vào hàng ngũ dân tộc
yêu nước và có thể nhận được sự hỗ trợ của những người
yêu chuộng công bằng trên khắp thế giới hầu tạo một dư
luận chính trị đủ gây khó khăn cho các nỗ lực quân sự
của Pháp tại Việt Nam.
Cùng với việc củng cố chiêu bài này, Hồ Chí Minh hết lời
mạt sát những người quốc gia yêu nước. Đây chính là ngọn
đ̣n vừa trực tiếp cản phá vừa trực tiếp tấn công vào ảnh
hưởng sự chuyển hướng cuộc chiến của Pháp trên cả hai
mặt trận quốc nội và quốc ngoại. Các nhân vật quốc gia
bị bôi bác liên tục là tham tiền, lưu manh, mật thám cho
Pháp – Nhật sẽ khó khăn trong việc thu hút sự ủng hộ của
dân chúng, trong khi dễ dàng bị dư luận quốc tế nh́n như
một thứ bù nh́n tay sai cho Pháp tiến hành cuộc chiến
xâm lược Việt Nam.
Tóm lại, Hồ Chí Minh đă đặt vào cuốn sách mục đích tuyên
truyền chính nghĩa cho cuộc chiến do ḿnh đang lănh đạo
để tranh thủ nhân tâm. Phải bằng mọi cách cho nhân dân
trong nước và dư luận thế giới thấy lực lượng Việt Minh
chiến đấu v́ chủ nghĩa dân tộc chứ không v́ chủ nghĩa
cộng sản và thấy Hồ Chí Minh được nhân dân khắp nước
tuyệt đối tin tưởng, kính yêu, suy tôn như vị cha già
dân tộc.
Cho nên Hồ Chí Minh không thể không viết cuốn sách trên,
không thể chậm trễ trong việc phổ biến cuốn sách đi khắp
nơi và tất nhiên không thể cho ai biết chính ḿnh là tác
giả.
Đặt cuốn sách vào khung cảnh t́nh h́nh đó, người đọc
không c̣n bận tâm nhiều về việc đối chiếu xem lời nói
nào của Hồ Chí Minh đă trái ngược hẳn với thực tế và mức
độ gian dối cao tới đâu. Sainteny từng có một nhận xét
rất sắc bén về Hồ Chí Minh: “Khi mưu tính của ông ta hay
đồng chí của ông ta, hoặc chính bản thân ông ta bị đe
dọa, ông ta sẽ không do dự dùng những cách tàn bạo. Về
phương diện này, ông ta hoàn toàn thuộc về cái thứ châu
Á quá nhiều mâu thuẫn, ở đó người ta áp dụng những h́nh
thức tra tấn cực h́nh tinh vi nhất tiếp theo những nghi
thức xă giao rất ư ngọt ngào”.
Khi nh́n Hồ Chí Minh như cách nh́n của Sainteny th́
không thể mô tả Hồ Chí Minh bằng những đường nét và màu
sắc mà chính Hồ Chí Minh đă gợi ra trước mắt mọi người
và cũng chẳng cần phân tích về những màu sắc đó.
Có thể nói Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ
tịch là một kiệt tác về tuyên truyền chính trị. Kiệt tác
tuyên truyền này đă đưa Hồ Chí Minh lên đài quang vinh,
đă giúp Hồ Chí Minh có thể đánh thắng kẻ thù mạnh hơn
gấp bội về mặt quân sự. Nhờ có nó toàn dân mới lao ḿnh
vào lửa đạn để bảo tồn quyền lực cho Hồ Chí Minh mà cứ
nghĩ ḿnh đang chiến đấu v́ tổ quốc. Nhờ có nó, nhiều
người cầm bút ở khắp nơi mới lầm tưởng việc chống Cộng
chỉ là chiêu bài cho các cường quốc tiến hành những cuộc
chiến phi nghĩa nhắm xâm lược các nước nhược tiểu, và v́
thế, đă tự chọn cái sứ mạng đứng ra bênh vực cho Hồ Chí
Minh và Cộng Sản Việt Nam.
Nhưng, sự có mặt của cuốn sách đă đủ cho thấy Hồ Chí
Minh không bao giờ là một người bộc trực, thẳng thắn,
chân thành, đồng thời càng khó thể tin Hồ Chí Minh là
một người yêu nước, thương dân như những lời tự diễn tả.
Hồ Chí Minh chỉ cho thấy quyết tâm bảo tồn quyền lực để
tiếp tục theo đuổi tham vọng của ḿnh bằng mọi thủ đoạn
xảo trá, giảo hoạt, mặc t́nh đổi trắng thay đen, nói
không thành có, lường gạt tất cả những người ngay thẳng
trên khắp thế giới và nhẫn tâm khai thác xương máu đồng
bào bằng những điều ngụy tạo về bản thân.
Cuốn sách đă đóng hết vai tṛ của nó trong việc giúp Hồ
Chí Minh phụng sự lư tưởng của ông ta. Nhưng cuốn sách
cũng góp phần quan trọng để phác họa trọn vẹn chân tướng
Hồ Chí Minh mà Sainteny đă diễn tả là kẻ sẵn sàng sử
dụng những cực h́nh tra tấn tinh vi nhất tiếp theo những
nghi thức xă giao hết sức ngọt ngào.
Minh Vơ
-----------------------(*): Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp của Minh Vơ do Tủ
Sách Tiếng Quê Hương [(703) 573–1207 hoặc (949)
495–6752] xuất bản cuối năm 2003 và tái bản đầu năm
2006.
(19)-(20)-(21)-(22)-(23)-(24)-(25)-(26): SĐD tr. 110,
122, 130-133, 162, 165-166, 167, 141, 160.