Vật Chất Tối Và Xác Ông Hồ
Nhất Hướng
Đầu thế kỷ XX Khoa học Phương Tây có được 2 thuyết lớn : Thuyết Tương Đối và thuyết Lượng Tử. Theo công thức E = MC2 (năng lượng bằng khối lượng nhân với b́nh phương vận tốc) trong thuyết Tương Đối. Chúng ta có thể giải thích rằng nếu chúng ta có được 1 kg vật chất (bất cứ vật chất ǵ) di chuyển với tốc độ 300.000 Km/giây th́ 1 kg vật chất đó có thể sản xuất ra được một năng lượng bằng 25.000.000.000 Kwh. Số năng lượng này có thể thắp sáng thành phố New York hơn 1 tháng. Trên thực tế và theo thuyết Lượng Tử th́ chúng ta không có được loại vật chất nào có thể di chuyển với vận tốc cao như thế hoặc gần bằng thế ngoại trừ ánh sáng.
Năm
1928 Paul Dirac, giáo sư toán trường đại học Cambridge, dựa vào phương tŕnh X2
= 4 (X b́nh phương bằng 4). V́ phương tŕnh này có thể cho được 2 đáp số khi X =
2 và khi X = - 2 nên Paul Diract đă đưa ra một thuyết cho rằng có một đáp số khi
hạt và năng lượng Dương và một đáp số khác khi hạt và năng lượng Âm. Như thế
phải có một biển vật chất và năng lượng Âm tồn tại đâu đó trong vũ trụ. Thuyết
này là một ư tưởng mới lạ trong vật lư cổ điển, các khoa học gia thời đó chỉ có
quan niệm hạt và năng lượng chỉ là Dương, vừa phù hợp và vừa làm ổn định được cả
2 thuyết Tương Đối và thuyết Lượng Tử.
Năm 1930 Victor Hess quan sát được những tia vũ trụ (cosmic rays) là những hạt
có năng lượng cao khi va vào bầu khí quyển đă tạo thành những trận mưa vũ trụ.
Năm 1932, Carl Anderson, giáo sư trường CIT, nghiên cứu về mưa vũ trụ đă phát
hiện một cái ǵ đó hiện ra bên cạnh với một định lượng tương đương với lượng
Electron. Ông gọi đó và Anti Electron và đặt tên là Positron. Từ đó Phản hạt
được xác nhận. Paul Dirac, Victor Hess và Carl Anderson đều được lănh giải Nobel
những năm sau đó.
Phải đến năm 1955 toán nghiên cứu của Emilio Serge và Owen Chamberlain mới t́m
ra được Anti Proton. Vài năm sau toán nghiên cứu của B. Cork và O. Piccione t́m
ra Anti Neutron. Từ đó đến nay, qua pḥng thí nghiệm CERN ở Châu Âu, các khoa
học gia Phương Tây đă thành công khi cho Anti Proton kết hợp với Anti Electron
hay với Anti Neutron để tạo ra Phản Vật Chất (Anti Matter). Một số khoa học gia
Phương Tây có ư kiến cho rằng Hạt và Phản Hạt có số lượng ngang nhau khi vũ trụ
khởi đầu vụ nổ Big Bang về sau chúng tách ra làm 2 phần và hiện nay Phản Hạt có
rất ít trong ngân hà chúng ta mà chỉ tồn tại rất nhiều ở ngoài ŕa vũ trụ nên họ
đặt máy ḍ hạt AMS trên trạm khôngmgian để ḍ Phản Hạt. Nhiều Khoa học gia
Phương Tây có ư kiến cho rằng mỗi hạt đều có một Phản Hạt đi theo và hạt và Phản
Hạt của nó có thể hủy nhau,ntrong trường hợp hạt mang lực th́ Phản Hạt cũng
giống hệt như hạt đó.
Trong khoảng thời gian sau này khoa học Phương Tây c̣n t́m ra được những loại
hạt khác gọi là hạt ảo, bởi chúng không giống như những hạt thực, chúng không
thể phát hiện bởi một máy ḍ hạt nào. Tuy nhiên chúng ta biết nó tồn tại bởi
chúng gây ra những hiệu ứng đo được, chúng đă tạo ra những lực can thiệp sâu xa
vào cuộc sống chúng ta như hạt ảo Graviton do Newton Isaac t́m thấy (gây ra lực
hấp dẫn). Hạt ảo Photon (gây ra lực điện từ). Các hạt ảo Boson, đó là các hạt
W+W và Zo (gây ra lực hạt nhân yếu). Tất cả các loại hạt mà chúng ta không thể
thấy được không thể phát hiện bởi những máy ḍ hạt hiện nay nhưng chúng ta biết
chắc rằng nó đang tồn tại đâu đó trong vũ trụ được các khoa học gia Phương Tây
gọi chung một tên là Vật Chất Tối (Dark Matter).
Trước đó các nhà Thiên Văn Phương Tây quan sát vũ trụ và ghi nhận được các thiên
hà mỗi ngày mỗi trôi xa. Họ cho rằng vũ trụ khởi đầu do vật chất tụ lại một điểm
gọi là Điểm Kỳ Dị và bùng nổ ra cách đây 15 tỷ năm, nay vũ trụ là một khối cầu
đang giăn nở, thuyết Big Bang của George Henry Lemaitre. Đến đầu năm 1990 họ lại
nghi ngờ sự giăn nở của vũ trụ là do một lực nào đó đang đẩy các thiên hà mỗi
ngày mỗi trôi xa. Họ gọi lực đó là Năng Lượng Tối và làm nhiều thí nghiệm để xác
nhận cho được loại năng lượng này. Tháng 10 năm 2004, một chương tŕnh quốc tế ở
đài thiên văn New Mexico với sự tham gia của 200 nhà thiên văn từ 13 viện thiên
văn quốc tế đă biên soạn xong một bản đồ mới nhất về vũ trụ trong khoảng không
gian xa nhất là 2 tỷ năm ánh sáng. Chương tŕnh này loại bỏ tất cả những nghi
ngờ về sự hiện hữu của Năng Lượng Tối và c̣n xác nhận thêm có một Vũ Trụ Âm đang
hiện hữu trong vũ trụ hiện nay. Trong Vũ trụ Âm này có chứa một lượng Vất Chất
Tối nhiều gấp năm lần vật chất ở Vũ Trụ Dương và chiếm một khoảng không gian đến
80% không gian của vũ trụ.
Việc khoa học Phương Tây xác nhận sự hiện hữu của Vũ Trụ Âm, Năng Lượng Tối và
Vật Chất Tối có thể được xem như thế giới Hữu Vi đă dùng được Hữu Vi để xác nhận
sự hiện hữu của thế giới Vô Vi, một thế giới mà các tôn giáo của loài người đă
đề cập đến hàng ngàn năm về trước. Triết học luôn luôn đi trước khoa học một
bước để dẫn đường cho khoa học. Khoa học đi sau những lại chỉnh đốn hay xác nhận
được những ǵ mà triết học có sai lầm hay đúng đắn. Thế giới chúng ta hiện nay
có 7 tôn giáo lớn là Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo,
Khổng Giáo và Lăo Giáo. Bảy tôn giáo này đỉnh cao của triết học duy tâm, tuy
những cách giải thích của từng tôn giáo có đôi chút khác nhau nhưng lại có chung
niềm tin là Con Người là một cái trạm mà Phần Bất Diệt của Con Người tạm đi qua.
Các tôn giáo gọi Phần Bất Diệt đó là Linh Hồn, là A Nại Gia Thức, Nhất Điểm Linh
Quang, Nguyên Bản. Khoa học Phương Tây trong những năm gần đây cũng có ư kiến
cho rằng Proton và Electron là những vật chất Bất Diệt, tuy họ đă
xác nhận được sự hiện hữu của Anti Electron và Anti Proton và biết được một Hạt
đều có một Phản Hạt đi theo nhưng họ chưa hiểu được tí nào về sự kết hợp giữa
Hạt và Phản Hạt nên cũng không làm sao để biết được một Con Người có một Phản
Con Người hay không và phần Phản Con Người có phải là Phần Bất Diệt là Linh Hồn
hay A Nại Gia Thức hay Nguyên Bản như các tôn giáo đề cập đến.
Các tôn giáo có những thuyết như : Thuyết Chúa Trời tạo ra vạn vật, thuyết Luân
Hồi, thuyết Thái Cực sanh Lưỡng Nghi (hay thuyết nhất điểm linh quang) v.v….
Những thuyết này nếu giải thích một cách đơn giản và khoa học là : Sự sống của
con người được khởi đầu do có sự can thiệp của thế giới Vô Vi. Nếu sự can thiệp
này có xảy ra th́ phần can thiệp đó phải là Vật Chất Tối : một loại vật chất mà
chúng ta chỉ biết nó đang tồn tại đâu đó trong vũ trụ và chưa biết ǵ về nó cả.
Vật Chất Tối này có thể là Chúa Trời, Thần Sai Baba,
Thần Ishvara, Thượng Đế, Ông Trời hay A Nại Gia Thức, Nhất Điểm Quang Linh v.v…mà
các tôn giáo có đề cập đến trong các thuyết của các tôn giáo. Các tôn giáo c̣n
có những thuyết khác như : Ngày Phán Xét Cuối Cùng, Lên Thiên Đường, Xuống Địa
Ngục, Luân Hồi, Phản Bản, Trường Sanh Bất Tử. Những thuyết này nếu giải thích
một cách đơn giản và khoa học là : Sau khi chết con người có một Phần Bất Diệt
gọi là Linh Hồn hay A Nại Gia Thức hay Nguyên Bản có thể được lên thiên đàng hay
bị xuống địa ngục hay sống trường sanh bất tử trong cơi Vô Vi. Điều này nếu có
có xảy ra th́ Phần Bất Diệt đó nếu được hiểu trong tinh thần khoa học Phương Tây
có thể chính là phần Phản Con Người hay Phản Hạt mà khoa học vừa xác nhận sự
hiện hữu của nó trong vũ trụ. Ư tưởng và thuyết thường được đánh giá loại F/6,
theo bảng giá trị tin tức F/6 có nghĩa là : Có Thể Có và Có Thể Không Có. Nhưng
thuyết th́ thường có nhiều điểm thuyết phục hơn là ư tưởng. Chúng ta không có
nhiệm vụ đem những ǵ của khoa học Phương Tây vừa phát hiện trong thời gian qua
để chứng minh cho sự hữu lư của các thuyết của các tôn giáo. Ví dù muốn làm điều
đó chúng ta cũng không đủ khả năng v́ Thế Giới và Phản Thế Giới hay Hữu Vi và Vô
Vi cũng có thể là hai mặt khác nhau, dùng những thứ của Hữu Vi như chữ nghĩa, lư
luận, thực nghiệm để nói về Vô Vi e rằng sự tác dụng không đúng như ḿnh nghĩ.
Thuyết Tương Đối của nhà bác học Albert Einstein là một thuyết của khoa học
thuộc lănh vực vật lư không gian mà số người hiểu được nó chỉ đếm được trên đầu
ngón tay nhưng nó đă chỉnh đốn lại Triết Học và biến đổi được con người rất
nhiều trong thế kỷ qua. Hai chữ Tương Đối và cái tên Albert Einstein đă đào mồ
chôn cái Ư Niệm Tinh Thần Tuyệt Đối của Fredrich Hegel và cái Ư Niệm Tuyệt Đối
Vật Chất của Karl Mark. Nó làm cho tính tuyệt đối trong chân lư của từng vấn đề
phải bị lung lay và làm con người bớt hung hăng bớt giết nhau để thực hiện chân
lư khách quan, chân lư chủ quan. Thế giới nhờ có thuyết Tương Đối mà yên ổn hơn,
bớt giết nhau hơn, bớt quá khích hơn dù rất ít người hiểu được trong đó nói cái
ǵ.
Việc xác nhận được sự hiện hữu của Vũ Trụ Âm, Năng Lượng Tối, Vật Chất Tối là
một phát hiện mới của khoa học Phương Tây trong thời hiện đại. Tuy họ có nhiều ư
kiến cho rằng Proton và electron là loại vật chất Bất Diệt và họ đă xác nhận
được sự hiện hữu của Vật Chất Tối nhưng họ chưa hiểu được Vật Chất Tối h́nh
thành như thế nào trong Vũ Trụ Âm, có kết hợp với Vật Chất trong thế giới chúng
ta hay không, có kết thành những ngân hà như trong Vũ Trụ Dương hay không, có
kết thành những hành tinh và kết thành sự sống như trong thế giới chúng ta không,
có sự giao lưu giữa 2 vũ trụ không, cánh cửa qua về giữa 2 vũ trụ hiện ở đâu,
Con Người bằng xương bằng thịt có phần Phản Hạt hay Phản Con Người không, Thế
Giới chúng ta đang sống có Phản Thế Giới không v.v… Sự phát hiện này chưa đủ khả
năng để nâng thêm giá trị cho các thuyết của chủ nghĩa Duy Tâm nhưng có thể làm
chúng ta thay đổi nhiều quan niệm của nhiều vấn đề trong đó có vấn đề : Cách xử
lư tốt nhất cho cái xác chết bác Hồ.
Ông Hồ một nhân vật lịch sử rất đặc biệt của nước Việt Nam chúng ta trong thời
hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông nếu được đem ra để đánh giá giữa công và
tội, giữa thiện và ác, giữa thật thà và gian manh, giữa đứng đắn và tồi tại th́
chúng ta cần phải có một nhà máy giấy và một nhà in làm việc 24 trên 24 trong 61
năm (1945-2006) cũng không sản xuất ra đủ giấy và in đủ tất cả những lời đă nói
về ông.
Ông Hồ, cũng giống như nhiều lănh tụ cọng sản khác trên thế giới, khi qua đời đă
bị lũ đàn em của ḿnh làm một việc rất lạ đời không giống như cách thông thường
của người xưa khi xử lư xác chết. Họ đă bỏ qua lời trối trăn muốn về thăm Cắt
Mát của ông Hồ và mang cái xác chết của ông làm thành một vật trưng bày cho
thiên hạ đến xem để làm biểu tượng ca ngợi chế độ và đảng cọng sản. Ông đi qua
bà đi lại tham quan kẻ khen người chửi (chửi thầm), kẻ thương người hận làm cho
cái xác và phần Phản Hạt của ông Hồ (nếu có) không thể yên ở ngay nơi an nghĩ
cuối cùng của đời một con người.
Người Phương Tây hay người Phương Đông từ ngàn năm nay thường hỏa táng hay chôn
xuống đất những xác chết khi kẻ ấy qua đời. Nếu có niềm tin về tôn giáo th́ họ
thường làm những buổi lể cầu kinh, tụng kinh để dẫn dắt phần hồn của người chết
đang bơ vơ giữa chốn trần gian không biết tựa vào đâu lên Thiên Đàng hay vào
miền Cực Lạc. Người xưa cho rằng nếu để nguyên xác chết mà không hỏa táng hoặc
không chôn, phần hồn sẽ không thể rời được xác chết để đi đầu thai kiếp khác.
Nếu những thuyết của chủ nghĩa duy tâm không thể đúng th́ không có ǵ để nói
nhưng nếu những thuyết của chủ nghĩa duy tâm có thể đúng th́ việc ướp xác ông Hồ
là một điều bất lợi cho chính bản thân ông. Phần Phản Hạt của ông Hồ có thể
không rời phần được Hạt của ông để lên thiên đường hay xuống địa ngục hay chuyển
qua kiếp khác như các thuyết của chủ nghĩa duy tâm thường đề cập đến.
Nhà bác học Albert Einstein đă được bầu làm một vĩ nhân của thế kỷ XX nhưng cuộc
đời của ông ta là cuộc đời b́nh thường như giống như cuộc đời của mọi con người.
Chúng ta cũng nên nh́n cuộc đời ông Hồ qua khía cạnh như những con người b́nh
thường th́ chúng ta thấy ông đă có nhiều mất mát to lớn. Ông Hồ có vợ (nhiều vợ)
nhưng không dám nh́n vợ, ông có con mà chẳng dám nhận con, ông ta đă mất một mái
ấm gia đ́nh, những giây phút hạnh phúc bên vợ bên con và nhất là ông đă bị treo
gị nhiều năm hay chỉ được làm cái việc đó trong chùng lén kín đáo để đóng cho
đúng cái vai mà đảng cọng sản đă tô vẽ cho ông (hay ông tự tô vẽ hay bị khẩu
buộc) : Một vị cha già dân tộc đă hy sinh cả cuộc đời không vợ không con để lo
cho việc giải phóng đất nước. Đúng như người xưa thường nói cha chung không ai
khóc nên khi chết cái xác của ông được giao cho một lũ ác ôn, bọn này tiếp tục
lợi dụng thêm đem ướp trưng bày như một vật tô điểm thêm cho chế độ và đảng cọng
sản.
Vơ Nguyên Giáp chưa chết, Trường Chinh trước khi chết không biết có kinh kệ ǵ
hay không nhưng Phạm Văn Đồng th́ đă năn nĩ Ḥa Thượng Nguyễn Đức Nhuận làm lễ
qui y trước khi rời trần gian để mong được về cơi …địa ngục chỉ c̣n riêng ḿnh
ông Hồ bị lũ đán em cho nằm trên cạn giữa Ba Đ́nh trông thật đáng thương để tiếp
tục nghe tiếng thị phi giữa trần gian đầy hiểm ác. Nếu mỗi Con Người có một Phản
Con Người đi theo và các thuyết của chủ nghĩa duy tâm có thể đúng th́ phần Phản
Con Người của ông Hồ có thể đang lẫn quất đâu đó trước Ba Đ́nh hay có thể có
tham dự buổi nhà báo ngoại quốc phỏng vấn thằng con của ông là Nông Đức Mạnh để
nghe lời nó từ chối không nhận ông là cha như ngày xưa ông đă không xem nó là
con. Chỉ v́ nhưng danh vọng hảo huyền mà cha không nhận con, con không nhận cha
là việc rất trái tai trong văn hóa Việt Nam. Hành động chỉ xảy ra ở Phương Tây
và chỉ xảy ra ở những con người như Cắt Mát.
Đem cái xác ông Hồ chôn xuống ḷng đất là ư kiến của nhiều người Việt hiện nay
để cho con ma cọng sản không c̣n lảng vảng giữa thủ đô Hà Nội, để cho sự sợ hăi
không c̣n bao trùm trong ḷng dân Việt, để khép kín một trang sử đau buồn của
đất nước Việt Nam, để cho mọi người nắm tay nhau đoàn kết nh́n về tương lai. Ư
kiến này sẽ không bao giờ thực hiện được nếu con người cọng sản không được dạy
dỗ 2 chữ hiếu thảo, văn hóa cọng sản không đề cập đến Nhị Thập Tứ Hiếu, Mục Kiền
Liên và Nông Đức Mạnh chưa hề đọc được câu nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên mà
ḷng vẫn chẳng biết đau khi biết phần Phản Con Người của cha ḿnh, là phần Vật
Chất Tối mà khoa học Phương Tây đă xác nhận sự hiện hữu, đang c̣n lẩn quẩn một
cách đáng thương đâu đó giữa trần gian đầy oan nghiệt. Những đảng thổ phỉ ngày
xưa tuy đi cướp bóc nhưng vẫn c̣n trọng chữ hiếu nghĩa. Đảng cọng sản Việt Nam
với người đảng trưởng như Nông Đức Mạnh có xứng đáng ngồi trên đầu dân Việt Nam
như điều 4 trong bảng Hiến Pháp không.
Nếu xác ông Hồ được chôn xuống ḷng đất th́ dân tộc Việt Nam cũng không nên quên
nói hai chữ cám ơn với Paul Adrien Maurice Dirac (1902-84), ông đă có được một
thuyết khoa học làm thay đổi được bộ mặt của xă hội Việt Nam, một xă hội đầy đau
thương từ ngày có đảng cọng sản.
Máy ḍ hạt AMS (Alpha Magnetic Spectrometer) được đạt trên trạm không gian để ḍ
Vật Chất Tối. Phản Hạt Positron (e-) được nh́n thấy trong máy ḍ hạt Cloud
Chamber
Nhất Hướng