TGNV TheGioiNguoiViet.Net

Diễn Đàn Tổng Hợp Thông Tin, Nghị Luận Thời Sự, Văn Học, Khoa Học, Tôn Giáo, Lịch Sử, Văn Nghệ Giải Trí

    Nhac Đấu Tranh   Nhac Quê Hương   Nhac Lính   Nhac T́nh   Nhac Ḥa Tấu    Cải Lương, Tân Cổ    Ngâm Thơ    Truyện   

                         

Trở lại   Diễn đàn Thế Giới Người Việt > 03. Diễn Đàn Việt Nam > Văn Học Dân Gian: Ca dao, Tục Ngữ...
T́m Kiếm Bài mới hôm nay Đánh dấu Diễn Đàn đă đọc

tgnv

Pḥng Games Online

Ủng hộ Diễn Đàn

Thế Giới Người Việt

Chuyện Phải Nói

Đề Tài Nổi Bật

Chuyện con số 3 và dự báo CSVN sẽ sụp đổ

Việt Nam sẽ thay đổi mầu cờ và chế độ vào năm 2014 do dân lật đổ

'Bố già' Kiên đă bị bắt

Dương Chí Dũng đă bị bắt

Trầm Bê xin được quản thúc

Chủ tịch Eximbank sắp bị bắt

Đ̣n phản công của 3 Dũng: Không nhả vị trí Trưởng Ban chống tham nhũng

Đánh án Kiên “bạc” chỉ là một phần của chuyên án chính trị bảo vệ chế độ

Âm mưu ám sát Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đang khẩn trương

Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu nhập cuộc. Chủ tịch Tập đoàn Masan bị bắt

Hồ Hùng Anh đă bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm

Tài Sản Khổng Lồ Của Cha Con Nguyễn Tấn Dũng

Ba Dũng đă chuyển 4 tỉ đô qua Đan Mạch

Từ bầu Kiên tới trùm Năm Cam

Thống đốc Nguyễn Văn B́nh?

Đảng CSVN thực chất đă tự tiêu vong

Đảng CSVN sắp tháo chạy...

Việt Nam tự ch́m dần trong quỹ đạo Trung Quốc 

Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Truyền H́nh Trung Quốc công khai kế hoạch đánh chiếm Việt Nam

H́nh Ảnh Quân Đội Trung Cộng tiến về biên giới Trung-Việt (8.2011)

Tại sao Trung Quốc vẫn nằng nặc đ̣i sát nhập VN vào lănh thổ của họ?

Thái Hà: Điểm khởi đầu sự sụp đổ Chế độ CSVN

Trung Quốc ăn thịt người dă man !

 

Pḥng Sinh Hoạt TGNV

Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)

 

Nơi phơi bày những cái rởm của CSVN: Bọn Quan trí thấp khoe thành tích, Một lũ luồn trôn hít với hà... (Chủ Quán: Doremi)

 

Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)

 

Nơi đây là chỗ kén chồng, Chàng nào đến Quán, nhớ gồng ḿnh nghen ! (Chủ Quán: Năm Trầu)

 

Nơi giới thiệu những bản nhạc hay và cũng là nơi bạn có thể yêu cầu những bản nhạc bạn muốn nghe (Chủ quán: Camly)

 

Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam

 

Nơi trao đổi những thông tin liên quan đến Thị trường Tài Chánh, Chứng Khoán, Vàng Bạc... tại Việt Nam và trên toàn Thế giới (Dr_Tran phụ trách)

 

Pḥng Audio TGNV

Nhac Đấu Tranh

Nhac Quê Hương  

Nhac Lính  

Nhac T́nh  

Nhac Ḥa Tấu   

Cải Lương, Tân Cổ 

Nghe Ngâm Thơ   

Nghe Truyện

Trả lời
 
Tools Display Modes
  #16  
Cũ 08-10-2011, 11:50 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 6,389
Thanks: 876
Được cảm ơn 2,508 lần trong 1,643 bài
Default


 Trèo Lên Cây Bưởi ...





Nguyễn Văn Thái



1

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay !

2

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra ?

3

Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen !



Cây bưởi đang có trái

Chùm thơ này đă có trong dân gian từ lâu ; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần tuư ; mà đă là ca dao th́ không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ v́ đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng : Năm Đinh Măo (1627), Chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Săi Vương (Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đ̣i Săi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Săi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Săi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ t́m kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Săi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và Chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến Chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đăi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, Chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau :

« Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch ».

Cả triều đ́nh không ai hiểu ư nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng :

Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư ;
Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến c̣n lại là chữ Bất ;
Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm th́ thành chữ Thụ ;
Và Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

Vậy, gộp cả 4 chữ mới lại thành câu : « Dư Bất Thụ Sắc » nghĩa là « Ta không nhận sắc phong »

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đă cao chạy xa bay rồi.

Trịnh Tráng muốn ra quân đánh Chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giă nổi lên, đành phải hoăn lại.

Trịnh Tráng cho người ḍ la biết được việc Săi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ Chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đ́nh vua Lê và Chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với 4 câu thơ :

1

« Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay ! ».

Đây chỉ là một trong các loại hoa tầm xuân
(có màu xanh biếc, gần như là màu tím).

Lời thơ nói đến chuyện anh (Chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ư thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa t́nh, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đ́nh trọng dụng c̣n nếu không th́ ngầm ư đe doạ.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đă xây mộ cho cha mẹ tại B́nh Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. V́ thế Đào Duy Từ không sợ hăi Chúa Trịnh trả thù ; và ông đă trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp Chúa Trịnh như sau :

2

« Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra ? ».

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó ḷng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ư c̣n bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của Chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.
Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của Chúa Trịnh. Hai câu đó như sau :

3

« Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen ! »

(*) Chồng, có ư nói là Chúa Nguyễn.

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp Chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cơi đất nước ta cho đến lúc qua đời ... ”
(Nguồn : My Opera / Danh Nhân Story).
Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ

Đào Duy Từ (1572-1634) sinh tại tỉnh Thanh Hoá. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi v́ cha ông làm nghề ca hát. Ông giận Chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của Chúa Nguyễn)

Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở B́nh Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đă phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đă tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lư Trần Đức Hoà. V́ mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hoà đă gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Săi đă phong cho ông làm Nha Uư Nội Tán.

Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đă giúp Chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cơi về phương nam v́ ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.

Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đă xây một chiến luỹ để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến luỹ này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng B́nh. Người dân gọi chiến luỹ này là Luỹ Thầy (tức là luỹ do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #17  
Cũ 10-05-2011, 10:21 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 6,389
Thanks: 876
Được cảm ơn 2,508 lần trong 1,643 bài
Default


Người xứ B́nh Định - tại sao được gọi là "dân Nẫu"


Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, h́nh thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Ḥa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên . Do đặc điểm của vùng đất mới c̣n hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man.

Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lư một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.

Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...

Do sự phát triển của xă hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại kư lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.

Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.

Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ:
Ví dụ:

-Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm.
- Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu.
- Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.

Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên-B́nh Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng”, “bả”. Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”.

Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu”.

Nẫu đă đi vào ca dao B́nh Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:

Ai nề sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gở nỗi niềm nhớ quê

Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo B́nh Đê (ranh giới B́nh Định - Quảng Ngăi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”.

Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (B́nh Định - Phú Yên) không phân biệt rạch ṛi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngă. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (B́nh Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu-Phú Yên), các âm dấu ngă đều phát âm thành dấu hỏi.

Riêng đồng bằng Tuy Ḥa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngă. Bởi vậy, “Nẩu” hay được phát âm là “Nẫu”.

Đồng bằng Tuy Ḥa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “Nẫu”.

Nói nôm na, tiếng Nẫu là tiếng địa phương của vùng B́nh Định và Phú Yên có nghĩa là họ, hay người ta, v́ là "đại từ nhân xưng" nó nằm ở vị trí ngôi thứ ba vừa số ít mà cũng vừa số nhiều. Ví dụ thay v́ hỏi „Hôm nay người ta đi đâu mà nhiều vậy? „ th́ người dân B́nh Định và Phú Yên hỏi là „Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?“ hay „Cái nhà này là của họ“ th́ dân Nẫu sẽ nói là „Cái nhà nhà này là của nẫu“.

Chính v́ vậy mà khi ḥa cùng tất cả tiếng nói của mọi miền đất nước th́ tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được, thậm chí c̣n dùng những từ hoàn toàn khác với những từ thông dụng, ví dụ thay v́ nói „Vào tận trong đó“ th́ nói là „Dô tuốt trỏng“ hay hỏi "vậy hả?" th́ hỏi là „dẫy na?“, "dẫy ngheng" (vậy nghen hay thế nhé), "dẫy á" (vậy đó), "chu cha wơi" (trời đất ơi) v.v...


========== Thêm môt version ===========



....Người Việt ḿnh từ văn minh lúa nước mấy ngàn năm đến giờ đă nổi tiếng là “nhà quê”, cho dù có ở thành thị th́ vẫn là “dân nhà quê” so với các nước khác. Vậy thử hỏi trong đất Việt Nam ḿnh, xứ nào là “nhà quê” nhứt? Đó chính là “xứ Nẫu”. Tôi đi khắp Việt Nam, ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ Nẫu, tôi dân Nẫu, Nẫu nè, Nẫu ơi…
V́ sao "quê", v́ ngay cái chữ “Nẫu” nghe nó đă quê rồi. Nó khởi thủy là chữ “nậu”, là một từ cổ ở miền Trung Nam Bộ, theo cụ Vương Hồng Sển, nó cổ đến mức gần như là nguyên thủy, ngày nay không c̣n ai dùng. Từ “nậu” để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc theo nơi ở: ví dụ: "Nậu nguồn" chỉ nhóm người trên rừng, "Nậu nại" chỉ nhóm người làm muối, "Nậu rổi" chỉ nhóm người bán cá, "Nậu rớ" chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ, "Nậu cấy" chỉ nhóm người đi cấy mướn, "Nậu vựa" chỉ nhóm người làm mắm... măi sau, bằng nguyên lư tăng âm đặc trưng của dân Việt ḿnh: “ông + ấy = ổng”, “chị + ấy = chỉ”, th́ cái “nậu + ấy= Nẫu”.
Xứ Nẫu bắt đầu từ B́nh Định, Phú Yên và một phần của Khánh Ḥa. Cũng như các vùng miền khác, mà gần nhất là xứ Quảng, giọng nói người xứ nẫu không lẫn vào đâu được. Người xứ Nẫu luôn nói lớn tiếng, giọng nặng và hầu hết các âm tiết đều bị biến dạng theo hướng nặng hơn, khó phát âm hơn…khó đến nỗi chỉ người xứ Nẫu mới nói được, làm như cái cấu tạo thanh quản của dân xứ Nẫu đă khác đi so với người xứ khác. Nẫu (người ta), rầu (rồi), cái đầu gấu (gối), trời tấu (tối), cái xỉ (muỗng), tộ (chén)…người xứ Nẫu nói cho người xứ Nẫu nghe, cho nên từ ngữ quê mùa cục mịch, đến mức câu ca dao mẹ hát ru con cũng nặng tŕnh trịch, nhưng mà nặng nhất là cái t́nh:
Thương chi cho uổng công t́nh
Nẫu dźa xứ nẫu, bỏ ḿnh bơ vơ
Hồi nhỏ, mỗi lần tôi làm điều ǵ không đúng, ông nội tôi thường nói: “đửng làm dẫy, nẫu cừ” (đừng làm vậy, người ta cười), nhưng cũng có khi ông nội cho tôi thoải mái, muốn làm ǵ th́ làm, kể cả vấn thuốc rê của ổng ra sân ngồi hút ph́ phà như người lớn, v́: “nẫu cừ th́ kệ nẫu cừ, nẫu cừ lạnh bụng, hở mười cái răng”. Dân Nẫu đúng như giọng xứ Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, t́nh cảm nhưng hơi thô kệch…
Dân Nẫu đi đến đâu cũng là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của ḿnh. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lăm như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng răi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy” (nậu vậy), Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ ǵ về ḿnh, tốt xấu ǵ cũng mặc, “kệ nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt tḥi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, nẫu sẽ sống chết với bạn..................


s/t Net
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #18  
Cũ 02-06-2012, 10:31 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 6,389
Thanks: 876
Được cảm ơn 2,508 lần trong 1,643 bài
Default


VỀ MỘT BÀI THƠ CHO D̉NG TRÀ GIANG



THÁI TƯỜNG

Sông Trà Khúc, con sông biểu tượng của Quảng Ngăi Núi Ấn Sông Trà – dài không quá 130 cây số ngàn, đă mang trên ḿnh nó những thắng cảnh của một thời vang bóng: Hà Nhai Văn Độ, Long Đầu Hư Thủy và cùng với Thiên Ấn tạo nên Đệ Nhất danh thắng của tỉnh nhà: Thiên Ấn Niêm Hà.
Cái non sông rất mực hiền ḥa:

Ai về xứ Quảng xa xôi,
Nhớ sông Trà Khúc sóng dồi lăn tăn...

Cái non sông đă sản sinh ra những thủy sản đặc biệt: Cá bống, cá thài bai và don, phát nguyên từ vùng núi cao giáp ranh với tỉnh Kontum, chảy qua quận Sơn Hà, xuôi về Đông, làm ranh giới cho 2 quận Sơn Tịnh và Tư Nghĩa, rồi chảy ra biển Đông bằng cửa Cổ Lũy, c̣n gọi là cửa Đại.

Con sông Trà Khúc thân yêu đó đă hai lần làm bối cảnh cho hai bài thơ dạt dào t́nh cảm của thi hào Cao Bá Quát:

-Trà Giang Thu Nguyệt Ca.
-Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc.

Trong Đặc San Quảng Ngăi Xuân Kỷ Măo 1999, tôi đă giới thiệu bài thơ "Trà Giang Thu Nguyệt Ca" (Bài Ca Trăng Thu Sông Trà) với 3 bản dịch của các dịch giả: Phan Huy Nhàn, Phước Hải, và Giản Chi.

Trà Giang Thu Nguyệt Ca là một trong mấy bài thơ tả trăng tuyệt vời của Cao Bá Quát, và một người Quảng Ngăi đă được cái diễm phúc nhận lời đề tặng của tác giả họ Cao: Ông Bảo Xuyên. Lần này tôi xin được giới thiệu bài thơ "Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc" (Cùng Bùi Thị Minh Trọng đêm đậu thuyền trên bến sông Trà Khúc).

Cũng giống như trường hợp nhân vật Bảo Xuyên, cho đến lúc này, chúng ta vẫn chưa t́m ra một tài liệu nào có nhắc đến tên tuổi của nhân vật Bùi Nhị Minh Trọng. Trong hoàn cảnh xa xứ hiện nay, cái nhu cầu cần t́m hiểu này lại càng khó khăn diệu vợi!

Căn cứ theo ư thơ của Cao Chu Thần, chúng ta phỏng đoán rằng họ Cao và Bùi Nhị Minh Trọng quen biết nhau chưa phải là lâu lắm:

Đồng du mạn thán phùng tương văn!
(Bạn cùng chơi với nhau những than hoài là gặp nhau đă muộn!)

Đây là lần thứ mấy Cao Bá Quát đến Quảng Ngăi? Chúng ta không biết được. Nhưng có một điều chúng ta có thể phỏng đoán là hai bài thơ cùng viết về sông Trà Khúc của họ Cao chắc chắn phải được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau.

Thời điểm sáng tác của bài thơ Trà Giang Thu Nguyệt Ca thật rơ ràng: một đêm trăng mùa Thu có trăng sáng vằng vặc.

C̣n thời điểm sáng tác của bài Đồng Bùi Thị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc? Chắc hẳn phải là một đêm không trăng:

Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!
(khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo!)

Bởi không có trăng nên mới chịu thắp đèn để hàn huyên tâm sự!
Có một đêm trăng mờ ảo, neo thuyền trên bến Phong Kiều, nhà thơ Trương Kế đời Đường bên Trung Hoa nh́n "lửa đèn trên những chiếc thuyền câu, nh́n những cây phong bên sông" mà thấy ḷng ḿnh như chùng xuống một nỗi sầu vô hạn:

Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên!
(Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ! – Tản Đà)

C̣n Cao Bá Quát cùng bạn đậu thuyền trên bến sông Trà Khúc, trong cái ánh sáng mờ ảo dần dần đi vào đêm, nh́n băi cát uốn quanh, nh́n khúc sông chảy hiền ḥa trước mắt mà tưởng như khúc ruột của chính ḷng ḿnh đang quặn thắt tái tê!

Sa hồi giang tự sầu trường khúc!
(Băi cát uốn quanh, khúc sông trông như khúc ruột quặn đau)

Cái "sầu trường khúc" đó mang tâm sự u uẩn của Vương Xán, Thái Ung.
Vương Xán, tự là Trọng Tuyền, người nước Ngụy thời Tam Quốc, xa quê đi làm quan ở đất Kinh Châu với Lưu Biểu, có làm bài Đăng Lâu Phú (Bài Phú Yên Lầu) nổi tiếng một thời nói lên t́nh cảm nhớ nhà, nhớ quê tha thiết của ḿnh. Cao Bá Quát cũng đă mang cái tâm sự nhớ nhà, nhớ quê da diết như của Trọng Tuyền.

Và tâm sự của Thái Ung mới chính là cái tâm sự bi phẫn của họ Cao.
Thái Ung, tự là Bá Giai, một học giả nổi tiếng đời Hán Linh Đế. Khi tên Tướng quốc đại gian hùng là Đổng Trác âm mưu cướp ngôi nhà Hán để thu phục nhân tâm, y đă hù dọa buộc Thái Ung ra làm quan cho ḿnh. Cao Bá Quát bất đắc dĩ phải uốn ḿnh ra làm quan cho triều Nguyễn có khác ǵ Thái Ung phải bất đắc dĩ giữ chức Trung Lang Tướng cho tên phản thần Đổng Trác?

Ôi! Cái bầu tâm sự bi phẫn đó đă được họ Cao thổ lộ cho một người bạn là con dân của miền núi Ấn, sông Trà: Bùi Thị Minh Trọng.

Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!
(khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo!)

Một đêm tiễn bạn trên bến Tầm Dương, một khúc sông Trường Giang chảy qua tỉnh Giang Tây bên Trung Hoa, quan Tư Mă đất Giang Châu là Bạch Cư Dị đời nhà Đường đă than:

Tọa trung khấp hạ tùy tối đa?
Giang Châu Tư Mă thanh sam khấp!
(Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu Tư Mă đượm mùi áo xanh
Phan Huy Vịnh)

Giọt lệ của Bạch Cư Dị đời nhà Đường bên Trung Hoa và giọt lệ của Cao Bá Quát đời nhà Nguyễn bên Việt Nam – hai giọt lệ bi phẫn đa t́nh của hai bậc thi hào đâu có khác ǵ nhau!
Sau đây tôi xin lục đăng bài thơ "Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc" để bà con đồng hương chúng ta cùng thưởng lăm:

Nguyên tác: (phiên âm)

ĐỒNG BÙI NHỊ MINH TRỌNG TRÀ GIANG DẠ BẠC

Nhược lăm nguy can tố lăng tŕ,
Cao sư thôi hoán bạc tiền ky
Sao hồi giang tự sầu trường khúc,
Mộ tĩnh phong như tửu lực vi
Dị địa bất câm Vương Xán cảm,
Đương niên thùy phóng Thái Ung quy?
Đồng du mạn thán tương phùng văn,
Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!

Dịch nghĩa:

CÙNG BÙI NHỊ MINH TRỌNG ĐÊM ĐẬU THUYỀN TRÊN BẾN SÔNG TRÀ

Dây mảnh, sào yếu ngược sóng đi rất chậm,
Bác lái dục thuyền đậu vào bến đá phía trước.
Băi cát uốn quanh, khúc sông trong như khúc ruột quặn đau.
Buổi chiều lặng lẽ, sức gió nhẹ như hơi men phảng phất.
Nơi đất khách khôn ngăn được nỗi cảm của Vương Xán,
Tưởng khi ấy ai đă chịu cho Thái Ung về?
Bạn đồng du những than hoài là gặp nhau đă muộn,
Khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo.

Dịch thơ:

Sào non, dây mảnh ngược lâu thay,
Chú lái ḥ nhau đỗ bến này.
Băi uốn, sông như sầu quặn khúc,
Tối ch́m, gió tựa rượu hơi say.
Thái Ung năm ấy về ai để?
Vương Xán hồn quê rộn lúc này.
Cùng hội, cùng thuyền than gặp muộn,
Khêu đèn tâm sự lệ vơi đầy.
(Theo bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ của cụ Hoa Bằng)
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #19  
Cũ 02-09-2012, 01:20 PM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 6,389
Thanks: 876
Được cảm ơn 2,508 lần trong 1,643 bài
Default



T́nh quê hương qua ca dao


Lê B́nh
Saturday, 04 February 2012 09:46

Vào đem gia thừa năm nay, trời xui đất khiến hay sao…mà tôi lại mở một bản nhạc đợi giao thừa th́ nó trung ngay một bài…coi như là “bói nhạc” đầu năm…Bài đó co tên Đêm Giao Thừa Nghe Một Khúc dân Ca của Vơ Đông Điền, qua giọng ca của Hương Thủy.

Ư mèn đét Thiên Địa Quỷ Thần ơi…sao mà nó lâm ly lạ kỳ…nghe xong nổi da gà luôn…Lời và nhạc …nó làm sao đó khó nói lắm…Nó như vầy “Đêm giao thừa nghe một khúc dân ca, Bài dân ca tha thiết đậm đà, Từ tha hương nghe bài dân ca, Câu dân ca ấm ḷng người đi xa, Nghe nôn nao như chiều 30 Tết, Bếp than hồng mẹ nấu bánh chưng xanh, Lời dân ca như phù xa con sông.

Thương quê hương thương vườn cau luống rau, Câu dân ca giao thừa nơi xa xứ, Có mùa xuân đến từ quê nhà…” Ư cha mẹ ơi, lần đầu tiên tôi nghe….nó lạnh trong xương sống, nó tê mê như uống chén rượu nồng….đế G̣ Đen, đế Bà Điểm. Ngoài lời ca tiếng nhạc c̣n có tiếng nhịp ong lang nghe cốc cốc….nó mời đă làm sao. Thế mới biết ngày xưa Trương Lương làm ră rời một đoàn quân.

Nhạc, nếu biết khai thác…nó có ảnh hưởng thật mănh liệt.

Tôi bừng tỉnh…chết thiệt chớ chẳng chơi. Nếu mà nâng lên “hàng quan điểm” th́ thằng cha nhạc sĩ nầy chả đang chơi “NQ 36” đây. Ai th́ tôi không biết, nhưng vói tôi, bài ca nầy nó có sức thẩm thấu thật sâu. Nếu nói tha thiết th́ chưa đủ nghĩa, nói đậm đà t́nh dân tộc th́ cũng c̣n thiếu…Diễn tả làm sao cà? Th́…cứ như vầy “Uống nước nóng lạnh tự biết”. Vậy đó, khó nói lắm. Tuy nhiên, “quan điểm” hay 35, 36 ǵ ǵ đó cũng chẳng sao.

Tôi thừ người ra. Ông bà của người Việt ḿnh hay thiệt là hay, văn chương học lực chẳng bằng ai, không tiến sĩ, cũng chẳng bác vật…vậy mà có những lời ca, câu hát, điệu ḥ…ma đi đâu …cũng có đôi khi làm cho ḿnh đứt ruột. Nhất là ḿnh đang ở xa quê hương.

Hôm nay, mục Nhịp SốngViệt xin được trở về thăm quê qua những câu ca dao, tục ngữ, dân ca.

Thôi khỏi định nghĩa chi cho mất công, bởi v́ ai ai cũng biết ca dao, tục ngữ…v.v. là cái ǵ rồi. Có người c̣n thuộc làu làu hàng chục, hàng trăm câu ca dao, mặc dù mù chữ. Thiệt đó, ngoại tôi, một bà già “quê rích quê rang”, h́nh như chưa có lần nào biết đến “Thầy G̣n”…vậy mà Kiều thuộcnhư cháo, ca da tục ngữ, ḥ…chứa một bụng, như các nhà hiền sĩ “Binh giáp tàng hung trung”. Nói cái ǵ bà cũng đệm một câu. Nhắc đến quê…bà phán ngay chốc:

“Cho em trở lại đường xưa
Để em t́m lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió ŕ rào chớm thu”

Cứ như là thơ.

“Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm.
Chuông hôm gió sớm trăng Rằm,
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa.”

Nghe mà đă lỗ tai luôn. Chớ chi bà là trai..chắc đắc đào mời là dữ thần ôn luôn nha.

Nhắc đến nhà quê th́ mớinhớ…Trai thanh gái lịch ở ruộng, nói noà ngay chẳng có ai đượchọc hành dỗ đạt ǵ, vậy mà cứ mùa gặt mùa cấy…hoặc chống xuồng trên kinh, rạch, gặo lúc giómát trăng thanh th́…ca dao, ḥ vè…cứ mà bay lơ lững trong không khí đượm mùi lúa chín, mùi sen nở, mùi bông lựu, bông mù u.

“Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
Ruộng ai th́ nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.”

Gặp mấy nàng như vầy th́ các anh có nước mà độn thổ luôn. Đối đáp làm sao mà đặng? Đừng có nghĩ quê hương ḿnh nghèo, dân ḿnh ít học…mà khinh nha. Một cô gái nop1i nhưvầy th́ trả lời, trả vốn làm sao? Chỉ có nước mần thinh là ăn chắc.

“Đố ai lượm đá quăng trời,
Đan gàu tát biển ghẹo người cung trăng.”

Hoặc

“Đừng thấy miếu rách mà khinh,
Miếu rách mặc miếu, thần linh hăy c̣n.”

Đó là những câu ca dao , tục-ngữ, dân-ca trong nền văn chương (văn học) b́nh-dân. Không biết có từ đời kiếp nào, mỗi ngay mỗi thêm …và ông già, bả lăo, thanh niên thiếu nữ…thuộcnằm ḷng. Không biết những anh ở tỉnh, ở thành…bác học, tiến sĩ….có thuộc hay không. Chẳng biết. Nhung cứ về miệt ruộng mà coi. Dường như từ năm chí bắc, từ ruộng đồng đến chốn đèo heo hút gió…Nhớngày xưa trong tuyện của Tự Lực Văn Đoàn có cô thôn nữ “Hỡi anh đi đường cái quan, dừng chân đứng lại cho em hỏi han đôi lời…” Ghẹo người ta mà văn chương ghê gớm chưa? Thưở nay văn minh lắm rồi, không biết có c̣n những cảnh “trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”…mà người ta có “tán tỉnh, chọc ghẹo” văn minh như ngày xưa không?

" Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ.
Nhện ơi! nhện hởi! nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! sao hởi! nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải Ngân hà,
Bóng sao Tinh-đẩu đă ba năm tṛn,
Đá ṃn, nhưng da chẳng ṃn,
Tào-khê nước chảy vẫn c̣n trơ trơ..."

Việt Nam của minh ngày xưa tre xanh bao bọc làng quê , và sau hàng tre xanh đó, đời sống và t́nh cảm của người ḿnh tha thiết, đậm đà, thân thương, tŕu mến…đă có cả một kho tàng văn chương tuy là là “b́nh dân”, nhưng chứa trong ḷng nó một nền tảng “bác học” nghiên cứu hoài chưa đến đáy…Và nó là nguồn gốc của tinh thần…Việt Tộc, là Rồng Tiên.

Không bác học mà người dân quê có những câu hóc búa như vầy:

" Đố ai biết đá mấy ḥn?
Tua-rua mấy chiếc, trăng tṛn mấy đêm?
Đố ai biết lúa mấy cây?
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng?
Đố ai quét sạch lá rừng?
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Đố ai lặn xuống vực sâu,
Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa?
Đố ai nằm vơng không đưa,
Ru con không hát? Ta chừa nguyệt hoa."

Wow! Hết biết chưa. Và dường như những câu nầy trở thành một bài hát rất được ưa thích?

Và quê hương của ḿnh đó có đời sống thật tuyệt vời, không cần nhà tiền triệu, du lịch bằng cruise, đi xa láng o láng cóng…v.v. Cuộc sống của người ḿnh th́ như vầy

" Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Tháng Tư, đong đậu nấu chè,
Ăn Tết Đoan-ngọ, trở về tháng Năm.
Tháng Sáu buôn nhăn, bán trăm,
Tháng Bảy, ngày rằm, xá tội vong nhân.
Tháng Tám, chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng Chín, chung chân buôn hồng.
Tháng Mười, buôn thóc, bán bông,
Tháng Một, tháng Chạp, nên công hoàn toàn..."

Toàn là hội với hè,chà với cháo…thiệt là sung sướng, choó có đâu như bâygiờ…mời bảnh con mắt, con gà vừa nhảy xuống đất th́ con người cũng lật đật tung mền ngồi dậy, ngáp dài ngắp ngắn lo ăn lo tắm lo chở con đến trựng và tất bật nhào vô hăng….đến chiều tối mới về đến nhà th́ thở hếtra hơi…cứ vậy quanh năm suột tháng…Cái nầy ông bà ḿnh đă nói rồi

" Áo dài chớ tưởng là sang,
Bởi không áo ngắn, mới may áo dài."

Trong đời sống hằng ngày th́ cũng có câu như thấ nầy:

" Hơn nhau tấm áo, manh quần,

Thả ra ai cũng ở trần như ai."

" Trời làm một trận lăng nhăng,
Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông."

Và quê hương ḿnh đó cũng có nhiều chuyện để nhớ chớ chẳng không? Nh́n ra ta chẳng bằng ai, nh́n lại th́ cũng chẳng ai bằng ḿnh. Đừng đi đâu xa. Đây nè!

"Ai ơi đứng lại mà trông
Ḱa núi Thành Lạng, ḱa sông Tam Cờ"

"Đồng Đăng có phố Ḱ Lừa,
Có nàng Tô Thị , Có chùa Tam Thanh"

"cao nhất là núi Ba V́,
Thứ ba Tam Đảo , thứ nh́ Độc Tôn"

"Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan.

" Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem chùa Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên , Tháp Bút chưa ṃn,

" Đông Ba , Gia Hội hai cầu
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông"

" Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia định, Dồng nai th́ vê."

" Đồng Tháp Mười c̣ bay thẳng cánh.
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm"

Bà con ḿnh đă đi hết chưa? Đă ăn được miếng mắm ba khía ở Cà Mau? Miếng mắm thái ở Châu Đốc? Đă qua phà Châu Giang, ngồi xuồng trên ḍng Vĩnh Tế. Đă đến Bắc Vàm Cống? Được ăn thịt chuột ở Cao lănh, uống trà sen ở Đồng Tháp Mười?...

Nhiều lắm.

Chỉ nghe một câu ca dao…giữa đêm giao thừa trên đất khách…nó đă dẫn tôi đi qua muôn dặm ngh́n trùng. Nhớ thiệt chớ chẳng chơi.

Lê B́nh
Reply With Quote
The Following 3 Users Say Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012), KienHoa (04-25-2012), tran56 (03-22-2012)
Trả lời

Tools
Display Modes

Điều lệ Đăng Bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies are Mở
[IMG] code is Mở
HTML code is Tắt

Forum Jump


Tất cả thời gian được căn cứ theo giờ Quốc Tế GMT. Giờ địa phương của bạn là 05:27 AM.


Nội dung và bản quyền của những bài viết hay quảng cáo trên trang Web này thuộc về tác giả. TheGioiNguoiViet.Net không chịu trách nhiệm về nội dung của những bài viết, của những bài góp ư hay quảng cáo. Chúng tôi giành quyền loại bỏ những bài không phù hợp với chủ trương của Diễn Đàn.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.