TGNV TheGioiNguoiViet.Net

Diễn Đàn Tổng Hợp Thông Tin, Nghị Luận Thời Sự, Văn Học, Khoa Học, Tôn Giáo, Lịch Sử, Văn Nghệ Giải Trí

    Nhac Đấu Tranh   Nhac Quê Hương   Nhac Lính   Nhac T́nh   Nhac Ḥa Tấu    Cải Lương, Tân Cổ    Ngâm Thơ    Truyện   

                         

Trở lại   Diễn đàn Thế Giới Người Việt > 03. Diễn Đàn Việt Nam > Văn Học Dân Gian: Ca dao, Tục Ngữ...
T́m Kiếm Bài mới hôm nay Đánh dấu Diễn Đàn đă đọc

tgnv

Pḥng Games Online

Gồm nhiều nước/tiếng khác nhau US, FR, DK, FI, IE, NL, NO, SE, UK, DE, ES, PL
Diffusé par Adcash

Creative

Ủng hộ Diễn Đàn

Thế Giới Người Việt

Chuyện Phải Nói

Đề Tài Nổi Bật

Chuyện con số 3 và dự báo CSVN sẽ sụp đổ

Việt Nam sẽ thay đổi mầu cờ và chế độ vào năm 2014 do dân lật đổ

'Bố già' Kiên đă bị bắt

Dương Chí Dũng đă bị bắt

Trầm Bê xin được quản thúc

Chủ tịch Eximbank sắp bị bắt

Đ̣n phản công của 3 Dũng: Không nhả vị trí Trưởng Ban chống tham nhũng

Đánh án Kiên “bạc” chỉ là một phần của chuyên án chính trị bảo vệ chế độ

Âm mưu ám sát Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đang khẩn trương

Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu nhập cuộc. Chủ tịch Tập đoàn Masan bị bắt

Hồ Hùng Anh đă bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm

Tài Sản Khổng Lồ Của Cha Con Nguyễn Tấn Dũng

Ba Dũng đă chuyển 4 tỉ đô qua Đan Mạch

Từ bầu Kiên tới trùm Năm Cam

Thống đốc Nguyễn Văn B́nh?

Đảng CSVN thực chất đă tự tiêu vong

Đảng CSVN sắp tháo chạy...

Việt Nam tự ch́m dần trong quỹ đạo Trung Quốc 

Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Truyền H́nh Trung Quốc công khai kế hoạch đánh chiếm Việt Nam

H́nh Ảnh Quân Đội Trung Cộng tiến về biên giới Trung-Việt (8.2011)

Tại sao Trung Quốc vẫn nằng nặc đ̣i sát nhập VN vào lănh thổ của họ?

Thái Hà: Điểm khởi đầu sự sụp đổ Chế độ CSVN

Trung Quốc ăn thịt người dă man !

 

Pḥng Sinh Hoạt TGNV

Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)

 

Nơi phơi bày những cái rởm của CSVN: Bọn Quan trí thấp khoe thành tích, Một lũ luồn trôn hít với hà... (Chủ Quán: Doremi)

 

Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)

 

Nơi đây là chỗ kén chồng, Chàng nào đến Quán, nhớ gồng ḿnh nghen ! (Chủ Quán: Năm Trầu)

 

Nơi giới thiệu những bản nhạc hay và cũng là nơi bạn có thể yêu cầu những bản nhạc bạn muốn nghe (Chủ quán: Camly)

 

Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam

 

Nơi trao đổi những thông tin liên quan đến Thị trường Tài Chánh, Chứng Khoán, Vàng Bạc... tại Việt Nam và trên toàn Thế giới (Dr_Tran phụ trách)

 

Pḥng Audio TGNV

Nhac Đấu Tranh

Nhac Quê Hương  

Nhac Lính  

Nhac T́nh  

Nhac Ḥa Tấu   

Cải Lương, Tân Cổ 

Nghe Ngâm Thơ   

Nghe Truyện

Creative

Trả lời
 
Tools Display Modes
  #11  
Cũ 04-25-2011, 01:18 PM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


KINH NGHIỆM SỐNG CỦA DÂN GIAN QUA VĂN CHƯƠNG B̀NH DÂN


Đă nhiều tháng qua, tôi bị hấp dẫn bởi những tiếng nổ của các kho đạn, những chuyện kỳ cục, những điều "trồi", "nổi" quanh ḿnh nen trong một chừng mực nào đó, tôi đă quên bẵng đi những vần ca dao mà bà nhà Bắc Kỳ của tôi đă chép ra từ trong trí nhớ của bả, để trên bàn viết mỗi ngày như một sự nhắc nhở tôi đừng quên chuyện ngày xưa. Càng hít thở không khí trên cơi đời phiền muộn, đầy dẫy oái ăm này càng lâu chừng nào, người ta càng nhớ và sống với quá khứ nhiều chừng nấy. Vui hay buồn ǵ, ai trong chúng ta cũng đều có quá khứ và sống với nó ít hay nhiều th́ tùy thuộc tâm trạng mỗi người. Thế nhưng, cái "chuyện xưa" mà tôi đề cập dưới đây là chuyện chung, không thuộc về ai cả. Và tôi cũng xin tầm phào tào lao một chút về những kinh nghiệm sống trong dân gian qua những vần ca dao, xem người xưa đă suy nghĩ, và sinh hoạt ra sao, âu cũng là một điều "vệ sinh và bổ". Bây giờ, xin mời bạn đọc những vần ca dao sau:

Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ ḷng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.

Bạn cũng như tôi, có lẽ đều thuộc "ṇi t́nh"? Bạn nghĩ ǵ và có thấy vừa thương vừa tội nghiệp cho người con gái xưng "em" ấy không? Thương và tội nghiệp cho nàng v́ nàng biết phận ḿnh, không có cái chuyện "đến sau" mà cứ ghen ngược, đ̣i chiếm cứ làm của riêng như chúng ta thường thấy xảy ra trong đời sống hàng ngày. Nàng có đ̣i hỏi điều ǵ quá đáng đâu, chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" cho vui thôi mà. Dễ thương biết chừng nào! Đó là nói về nàng, c̣n người viết ra mấy câu trên th́ tôi tin chắc cũng thuộc thành phần "Ta cũng ṇi t́nh, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh Trinh). Đó là một người ham thích của lạ, muốn đèo ḅng chạy một lúc vài ba "máy" cho đời thêm vui, và thêm...rắc rối. Thật ra, trong 10 anh "đần ông" (không phải đàn ông) th́ hết 11 anh có máu loạng quạng, léng phéng không ít th́ nhiều. Quư vị nam nhi chi chí nào tự xưng ḿnh là người mẫu mực, đạo đức, không hề phiêu lưu, mơ tưởng đến những "vùng đất xa lạ" th́ người ấy có thể được sánh ngang với hàng "thánh sống" rồi. Đa phần c̣n lại, trong đó có tôi, thuộc loại phàm phu tục tử, một thứ "đần ông" chính hiệu ngất ngư con tàu đi. Cho nên, xin có lời bái phục! Phải bái phục các vị thánh sống đó là bởi v́, chính các cụ đạo đức cùng ḿnh ngày xưa, đă không ngần ngại mà thốt lên rằng:

Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Một nàng th́ rất dịu dàng, e ấp, chịu phần lép vế chỉ xin "thấp thoáng ánh đèn" thôi, nàng kia th́ can đảm hơn, chận anh giữa đường, níu áo anh lại để than thở với anh vài lời:

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đă có chị tôi ở nhà.

Và một nàng khác, tuy cũng thương anh nhưng rất thực tế, nàng cảnh giác tối đa chỉ sợ bà cả vác dao chém cho vài nhát th́ c̣n chi là đời nữa:

Gặp anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.

Tục ngữ có câu "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là coi chuyện nhan sắc của người phụ nữ không quan trọng bằng tính nết. Tục ngữ nói vậy th́ ta cứ biết như vậy, nhưng cái hấp dẫn đầu tiên của người phụ nữ đối với các đấng nam nhi là cái ǵ? Có phải nhan sắc của người phụ nữ ấy không? Tôi không biết người yêu của Chí Phèo trong tiểu thuyết của Nam Cao xấu xí ra sao nhưng các cụ ngày xưa vẫn một mực cương quyết:

Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
C̣n hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.

Cằm lẹm, răng hô th́ các cụ chê đă đành rồi mà ngay cả đến cô nàng có cái mặt mo phinh phinh, chân lại đi ṿng kiền chữ bát th́ có cho không, các cụ cũng chẳng thèm:

Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm

Ngược lại, người con gái có đôi mắt lá răm, chân mày lá liễu th́ đúng là của quư, đáng trăm quan tiền:

Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Đến đây các bạn có thể thắc mắc: thế cái loại nhan sắc nào của các nàng khiến cá cụ nh́n rồi muốn chửi(?):

Mặt má miếng bầu, nh́n lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.

Các cụ có được những hiểu biết về cách ăn ở, đối xử của người chung quanh là do quan sát, tích lũy kinh nghiệm rồi đói chiếu, so sánh để có một nhận định chung. Theo đó, người phụ nữ nào mà đáy thắt lưng ong th́ khéo chiều chồng và khéo nuôi con. C̣n "mệ" nào béo trục béo tṛn th́ ăn vụng như mèo lại hay rầy rà con cái. Đúng được bao nhiêu phần trăm th́ khó mà khẳng định, có điều những h́nh ảnh đó đă truyền lại cho con cháu suốt bao thế hệ và đă ở lại măi măi trong văn chương b́nh dân:

Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Những người béo trục béo tṛn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.

Cũng qua kinh nghiệm trên một số người mà các cụ có nhận xét:

Trai Nhâm Đinh Quư th́ tài,
Gái Nhâm Đinh Quư phải hai lần đ̣.

Hai lần đ̣ là trong cuộc đời của người phụ nữ có cái tuổi Nhâm Đinh Quư này sẽ có tới hai đời chồng. Ngày xưa, ít có vụ ly dị mà chỉ khi chồng chết rồi người đàn bà mới tái giá, đi thêm một bước nữa. C̣n thời nay, nhất là ở trên xứ Mỹ tự do một cách kỳ cục này th́ không hẳn là do chồng chết mà là do không c̣n "hợp" nhau nữa nên "anh đường anh, tôi đường tôi" đấy thôi. Không nói tới chuyện tiền bạc, dốp diếc làm chi, chỉ cần chàng ngủ ngáy hơi lớn tiếng là nàng vác đơn ra ṭa ca bài "hai gịng sông ly biệt" rồi. (Nhân nói về một người đàn bà đi thêm bước nữa gọi là tái giá, tôi thấy Tiếng Việt ta thật hay và phong phú. Đàn ông vợ chết, lấy vợ khác gọi là tục huyền, c̣n đàn bà lấy chồng khác gọi là tái giá. Tôi đă lẩn thẩn nghĩ rằng trong trường hợp các bà, sao ta không gọi là "tục tỉu", có phải vui hơn không? Nghĩa là: đàn ông, vợ chết lấy vợ khác; gọi là tục huyền. Đàn bà, chồng chết, lấy chồng khác: gọi là tục tỉu. Cũng đều bắt đầu bằng chữ "tục" cả. Tái nạm, tái gầu vào đây làm chi cho thêm phiền toái!)

Trong khi đó, về cánh đàn ông, các cụ không e ngại ǵ mà tuyên bố thẳng thừng rằng:

Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa ḷng

Hoặc:

Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại c̣n muốn những nhung sâm nước ngoài.

Và đây là một chàng tuy đă có vợ nhưng không lúc nào quên bồ nhí của ḿnh:

Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Chàng có vợ bé hoặc bồ nhí hay cho rằng vợ người khác đẹp hơn vợ ḿnh th́ cũng là chuyện thường t́nh nhưng chàng sẽ là một tên "đại cà chớn" nếu có tà ư đem ḷng thương yêu vợ bạn. Chàng cũng hiểu như thế là bất nhơn, là không đạo đức:

Ai xui ai khiến bất nhơn
Tui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.

C̣n chàng có thương vợ người khác mà không được th́ thôi chứ chẳng lẽ ăn vạ hay tự tử(?):

Buồn t́nh chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được th́ thôi.

Thương không được th́ thôi chứ không như mấy anh chàng có máu "dê" đầy ḿnh và gan góc, chết th́ chịu chứ quyết theo đuổi nàng tới cùng:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.

Nếu chàng gan dạ và can đảm cùng ḿnh như thế th́ hẳn chàng có nhiều lá gan và không chỉ chàng dành cho vợ mà c̣n cho người khác nữa.:

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Đó chỉ mới là "toan tính" thôi chứ chưa chắc đă dám hành động rơ ràng dứt khoát như trường hợp của phe tóc dài dưới đây:

Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng th́ ít thương trai th́ nhiều.

Như thế, cuộc sống lứa đôi của cặp vợ chồng trên đây không có ǵ bảo đảm sẽ tồn tại với thời gian, không thể nào ăn đời ở kiếp đến răng long đầu bạc được. Người chồng ở đây là một người chồng đau khổ. anh đau khổ là v́ lỗi là do chính anh chứ không phải nguyên do nào khác. Vợ anh không thương anh mà đem ḷng thương trai là do anh đần độn quá sức:

Một là em lấy chồng quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng dân
Nhưng em không chịu lấy chồng đần,
Về nhà cha mẹ mắng, ra đường chị em khinh.

Cái quan niệm chọn chồng của người đàn bà ở trên thật minh bạch. Lấy ai cũng được, sang hèn ǵ cũng xong nhưng không thể đi nâng khăn sửa túi cho một anh ngu đần, ăn nói vụng về luôn luôn gây phật ḷng người khác. Có một câu chuyện kể rất tiếu lâm về một anh chồng đần độn kiểu này như sau:

"Một anh chồng trong một gia đ́nh nọ, vừa ngu vừa vụng về. Hễ mở miệng ra là đem bực ḿnh đến cho người khác. V́ thế, trong mọi giao tiếp, bà vợ phải cấm chỉ anh ta, không nói ǵ hết. Một hôm, hai vợ chồng được mời dự bữa tiệc đầy tháng con của một người bạn. Bà vợ dặn chồng là suốt bữa tiệc phải im lặng hoàn toàn. Anh chồng nghe lời. Đến dự, mặc cho thiên hạ nói ǵ th́ nói, suốt buổi anh thủ khẩu như b́nh. Đến khi tiệc tan, mọi người chia tay nhau ra về, mỗi người đều nói một lời chúc tụng nào đó cho cháu bé. Anh chồng buộc lời phải phát ngôn. Anh bèn nói với chủ nhà, là mẹ của đứa trẻ sơ sinh: Chị thấy đó, từ đầu tiệc đến giờ tôi hoàn toàn không có nói điều chi cả. Lỡ ngày mai cháu bé có chết, chị đừng có đổ thừa là tại tôi đấy nhá!"

Cánh đàn ông chúng ta thường tự nhận ḿnh là "đần ông" để vuốt ve, thỏa măn tự ái của các bà chứ nếu các bà thật sự chê chúng ta là ngốc, là đần th́ ta đành phải xách xe không chạy mút chỉ cả tha thôi:

Một đêm quân tử nằm kề,
C̣n hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.

Hay:

Một ngày dựa mạn thuyền rồng
C̣n hơn chín tháng nằm trong thuyền chài

Từ Đông sang Tây, một ngàn năm trước hay hay một triệu năm sau, bất cứ ở đâu, thời nào cũng có những người đàn bà không đoan chính, tự do xả láng sáng về sớm. Có chồng th́ càng dễ..."lăng ba vị bộ", v́ đă có người đứng mũi chịu sào rồi mà.

Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?

Và c̣n ra cái điều "thách thức" nữa các cụ ạ:

Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy th́ cho.

Không những thách thức mà c̣n trân tráo, đanh đá, trơ mặt ngồi xổm trên luân thường đạo lư mới là kinh hăi. Trong đời, bạn đă từng gặp loại người đàn bà này chưa:

Lẳng lơ cũng chẳng có ṃn ,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Trường hợp nàng gặp phải một anh chàng ba phải, phổi ḅ, không quan tâm thắc mắc ǵ đời sống của nàng, ra cái điều rộng lượng th́ nàng cũng có quyền rong chơi với tháng ngày chứ:

Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em c̣n chơi Xuân.

Thà là như thế c̣n hơn cái cảnh đêm nay để cửa chờ chồng, đêm mai th́ chờ ông láng giềng:

Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

Ngày xưa, khi người chồng qua đời, người vợ để tang 3 năm, sau đó có quyền lấy chồng khác. Tuy thế, cũng không ít trường hợp chưa măn tang, người đàn bà đă vội có người đàn ông khác:

Mả chồng c̣n đó trơ trơ,
Đă cùng người khác đợi chờ năm canh.

Bên cạnh đó cũng có những người vợ rất đàng hoàng, đoan chính, nhỏ nhẹ, thưa với người đi theo tán tỉnh rằng "cám ơn những t́nh cảm anh dành cho tui nhưng xin anh đừng đến nhà tui nữa kẻo chồng tui ghen":

Có ḷng th́ tạ ơn ḷng
Anh đừng đến nữa mà chồng em ghen.

Trong đời sống hàng ngay, vợ chồng chia bùi xẻ ngọt với nhau. Không ai có thể săn sóc lo lắng cho nhau tận t́nh như vợ với chồng. Thử h́nh dung ra cảnh người chồng đau nằm liệt giường, người vợ lo thuốc thang, chân thấp chân cao bưng thuốc đến cho chồng uống, vừa đi vừa vái trời cho chồng mạnh khỏe để cùng ăn đời ở kiếp...Làm sao ta không thương hết ḿnh những người vợ như thế được:

Cầm con dao sắc cắt đôi củ gừng,
Bỏ vô nồi đất, sắc lại vài phân.
Cái tay em bưng, cái chân em bước
Mái tóc em xước, cái lược em rơi
Vừa đi vừa vái ông trời
Cho chồng em mạnh, ở đời với em.

Nếu người đàn bà thương chồng nhiều đến thế th́ hẳn nhiên là cũng thương con ngập ḷng. Nàng bương chải đi làm nuôi con, mặc cho áo rách sờn vai:

Em đi làm mướn nuôi ai,
Cho áo em rách, cho vai em ṃn.
Em đi làm mướn nuôi con,
Áo rách mặc áo, vai sờn mặc vai.

Một vài h́nh ảnh khác cho thấy sự buôn tần bán tảo và bương chải ngược xuôi, đầu tắt mặt tối để lo sinh kế gia đ́nh của người đàn bà đến nỗi vú xẹp, lưng nàng teo:

Một ngày ba bận trèo đèo,
V́ ai vú xẹp, lưng teo hỡi chàng?

Nh́n chung, qua những vần ca dao, chúng ta có thể h́nh dung và hiểu được những suy nghĩ cùng tâm t́nh và cách sống của dân gian. Cũng qua ca dao, người xưa đă để lại cho chúng ta một kho tàng về kinh nghiệm sống trên mọi lănh vực, trong đó đáng kể nhất là kinh nghiệm nói về bản chất không thể thay đổi ở một số người, hay nói nôm na là khi đă thành "tật" rồi th́ khó mà chữa được:

Trời nắng rồi trời lại mưa,
Tính nào tật nấy có chừa được đâu.

HUỲNH VĂN PHÚ
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #12  
Cũ 05-05-2011, 06:24 PM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


V̀ SAO TÔI YÊU TỤC NGỮ CA DAO



V́ sao tôi yêu tục ngữ ca dao, đó chính là điều mà hôm nay tôi muốn nói đến ḷng biết ơn sâu xa của tôi đối với Mẹ hiền, người đă ru vào đời tôi những câu ru ngọt ngào, đầy t́nh tự quê hương... từ thuở nằm nôi, và sẽ c̣n măi măi cho tôi biết yêu những câu lục bát dễ thương, đẹp như ḍng sông nước chảy lững lờ, hay như buổi chiều khi nắng nhạt nhoà trên những ṿm cây nơi thôn làng...

Tôi yêu miền quê, yêu tiếng chày giă gạo vào đêm trăng, yêu tiếng sáo diều vi vu trên bầu trời đầy mây vào buổi chiều, và yêu tiếng ru hờ à ơi với tiếng vơng kẽo kẹt, trong buổi trưa nồng gió hạ, có tiếng gà gáy trưa im buồn...

Tôi yêu tiếng ru của mẹ, khi nằm chờ giấc ngủ, được gối đầu trên cánh tay mẹ, và quàng tay ôm khuôn mặt mẹ, như muốn níu xuống thật thấp, để nghe rơ ràng lời ru êm:

À a à ơi,

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chua về
Bắt được con diếc, con trê
Đem về làm thịt cho cái ngủ ăn
Cái ngủ ăn chẳng hết
Để dành đến tết mồng năm...

và giọng mẹ ngọt ngào ru tiếp, một tay khi xoa đầu tóc tôi, khi xoa lưng v́ sợ cơn nóng hè oi ả, " rôm " sẽ làm ngứa lưng..

À à ơi,

Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm muo muối giỗ cha chú mèo...

hoặc :

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày th́ canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẫn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những tre cùng nứa lấy ai bạn cùng...

Tiếng ru êm ái ngọt ngào đó của mẹ đă làm cho đôi mắt tôi khép lại và ch́m dần trong giấc mộng trẻ thơ :

Hôm qua tát nưóc đầu đ́nh
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được th́ cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đă lâu
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vó
Một con lợn béo, một ṿ rượu tăm
Giúp em đôi chiếu ẹm nằm
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau ...

Mỗi tối, mẹ ru hoài những lời ca dao t́nh tự ấy đă thấm nhuần vào trí hồn tôi lúc nào không hay.

Cho nên, sau này, khi tôi đă 5, 7 tuổi, biết chơi búp bế, tôi cũng đă ru búp bế ngủ bằng những bài ru mà tôi đă thuộc nằm ḷng từ mẹ.

Tôi chỉ c̣n nhớ mang máng khi chiến tranh Pháp - Việt Minh bùng nổ vào tháng 8 năm 1945, gia đ́nh tôi đă chạy xuống Vĩnh Hồ, cách Hà Nội khoảng mấy chục cây số. Gia đ́nh tôi đông anh em, tới 11 người, lại c̣n cộng thêm gia đ́nh ông anh thứ hai là Lê Huy Giáp đă lập gia đ́nh và chị Giáp lúc ấy đang có bầu gần ngày sinh nở, cho nên Thày mẹ tôi đă phải thuê một căn nhà khá lớn.

Tôi vẫn c̣n nhớ, đó là căn nhà trong một khu biệt thự lớn, có cổng sắt to, và căn nhà gia đ́nh tôi thuê là căn nhà đă bỏ hoang, nhưng rất nhiều pḥng và rộng răi.

Và cháu Minh Phú đă mở mắt chào đời tại Vĩnh Hồ, vào ngày mồng 1 tháng 9 năm 1945.

Tôi hay thơ thẩn ngoài vườn sạu trong khu đất trống bỏ hoang cách nhà cũng khá xa. Tôi thích ngồi trên những tảng đá bị cỏ hoang phủ đầy, và nhẩm học những câu ca dao mà mẹ tôi đă bắt học thuộc ḷng.

Bây giờ, không c̣n là những bài hát ru nữa, mà là những câu dạy đời, khuyên nhủ về đạo đức về t́nh người:

Chẳng hạn:

- Bầu ơi thuơng lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

- Ở sao cho vừa ḷng ngườí
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

- Chẳng tham ruộng cả ao liền
Tham v́ cái bút cái nghiên anh đồ.

- Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời d́ ghẻ mà thương con chồng.

- Sông sâu c̣n có kẻ ḍ
Ḷng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Học thuộc ḷng mấy câu tục ngữ ca dao th́ dễ thôi, cái mà tôi sợ nhất là mẹ bắt học thuộc ḷng bài kinh thật dài với tựa đề " Dọn Ḿnh Chết ". Chao ôi, ở cái tuổi chưa đủ lớn, mà lại đă phải nghĩ đến ngày nào đó, ḿnh ra đi, th́ nản đời biết chừng nào. Ấy vậy mà tôi cũng đă phải học thuộc, và c̣n nhớ như in đến bây giờ.

Tuy nhiên, v́ từ thuở ấu thơ, mẹ đă gieo vào ḷng tôi những câu thơ lục bát, cho nên khi có trí khôn, tôi đă yêu những vần thơ lục bát. Và điển h́nh là yêu những câu thơ chân chất t́nh người, những vần thơ của nhà thơ chân quê Nguyễn Bính:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương,
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa
Cậy em, em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương
Hôm nay xác pháo đầy đường
Ngày mai xác pháo c̣n vương khắp làng
Chuyến này chị bước sang nagng
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây.
Ruợu nồng em uống cho say
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
( Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận chị lo không tới bờ )...

( Lỡ Bước Sang Ngang )

Chỉ với 10 tuổi đầu, tôi đă mê thơ Nguyễn Bính, và thuộc ḷng bài thơ Lỡ Bước Sang Ngang, dù chẳng ai bắt học thuộc ḷng cả.

Và, h́nh ảnh miền quê, với sông, núi, với con thuyền lơ lửng trên sông, với khóm tre đong đưa theo gió, và những vần thơ lục bát, đă tạo nên một Hồng Vũ Lan Nhi với tâm hồn thơ mộng, lăng mạn tuyệt vời!

Nhắc đến mẹ, ḷng tôi bao giờ cũng xót thương, bởi v́ tôi luôn là kẻ làm mẹ buồn nhiều hơn vui.

Mẹ muốn tôi học giỏi, th́ tôi lại ham chơi hơn học.
Mẹ muốn dạy tôi cách nấu nướng, những món đặc nhà quê, như kho thịt, kho cá bằng nồi đất v..v... Nhưng tôi lại chỉ thích là kẻ chạy bàn trong những ngày giỗ chạp, để phần các chị lớn lo nấu cỗ. Mẹ đă cho tôi đi học nấu cỗ với bà Lộc, nhưng tôi lại thưa cùng mẹ :

- Nếu số con giầu có, con đă có tiền nuôi xẩm, lo ǵ phải nấu. Nếu số con nghèo, làm ǵ có tiền để mua gà, mua nấm, để mà nấu.

Biết con gái lười, mẹ cũng đành cười:

- Vụng chèo nhưng lại khéo chống.

Năm tháng qua đi trong vui, buồn, sướng, khổ. Giờ đây, viết về ca dao tục ngữ, nhắc đến mẹ, để thấy ḷng con hănh diện về mẹ đến thế nào!

Mẹ ơi!

Hồng Vũ Lan Nhi

Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012), ngocthe (08-08-2011)
  #13  
Cũ 06-28-2011, 10:09 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


Hóm hỉnh trong Ca dao t́nh yêu miền Nam




Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao t́nh yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.

Trước hết là chất hóm hỉnh không cố t́nh, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si t́nh đă trở thành ‘liều mạng’:

Dao phay kề cổ,
Máu đổ không màng
Chết th́ chịu chết
Buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đă giật ḿnh ‘hú vía’ v́ kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:



May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong ḷng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn t́nh:

Tôi xa ḿnh hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nh́n nhau mạnh liền

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ t́nh cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái t́nh trong đó cũng mănh liệt và sâu sắc.
Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đă toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đă phóng đại nỗi nhớ người yêu của ḿnh bằng cách so sánh ví von trào lộng:



Vắng cơm ba bữa c̣n no
Vắng em một bữa giở gị không lên

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười.

***

Pḥng loan trải chiếu rộng th́nh
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn ḿnh, em ơi!

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

Tôi xa ḿnh ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề ǵ. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm t́nh si của ḿnh. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng ḿnh đă phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rơ được ḷng ḿnh.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đă nghĩ ra một con đường ṿng hiếm có:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ ḿnh dễ thương

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘ḿnh dễ thương’ mà chàng đă ṿng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược ḍng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘ḿnh’. Thật là nhiêu khê, ṿng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện ǵ đây’, cho đến khi cái kết cục th́nh ĺnh xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui ḷng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!

Ngược lại, cũng có những lời tỏ t́nh khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng h́nh ảnh th́ lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, c̣n đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguưt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong t́nh yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:



Thác ba năm thịt đă thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em

Quả là ‘khối t́nh thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người ḿnh yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se

Thái độ quyết liệt trong t́nh yêu lắm lúc được thể hiện đầy mănh liệt. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đă xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết c̣n hơn là lẻ bạn!

Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với ai?

Có chàng trai th́ quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:



Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Chàng vừa muốn tỏ ḷng ḿnh vừa muốn thử ḷng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa

Bằng câu đùa dí dỏm của ḿnh, cô nàng đă làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có ǵ đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’.

Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ t́nh cảm của ḿnh không kém các chàng trai.

Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột trao anh mang về

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của ḿnh, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều ḿnh chứng tỏ t́nh yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:



Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đă lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người:

Ra đi gặp vịt cũng lùa
Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…

Đoàn Thị Thu Vân


s/t by HVLN - TrungVuong - VietBao
Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012), ngocthe (08-08-2011)
  #14  
Cũ 08-08-2011, 10:25 PM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


CA DAO B̀NH ĐỊNH.


ĐÀO ĐỨC BÍCH

B́nh Định nổi tiếng không những có anh hùng Quang Trung Đại đế Nguyễn Huệ bách chiến bách thắng phá tan quân Thanh ở phía Bắc, đánh bại quân Xiêm ở phía Nam, B́nh Định c̣n là một địa danh nổi tiếng khắp nước Việt nam về vơ thuật mà ngay cả đàn bà, con gái vẫn biết côn, quyền qua câu ca dao:

"Ai về B́nh định mà coi
Con gái B́nh Định cầm roi đi quyền"

Nhiều sản phẩm nổi tiếng ở B́nh Định: khi thăm viếng, người ta thường mua làm quà để tặng cho nhau những đặc sản đẹp, cổ truyền biểu tượng tấm ḷng chung thủy của người con gái:

"Nón ngựa G̣ Găng
Bún Song thần An Thái
Lụa Đậu tủ Nhơn Ngăi
Xoài tượng chín Hưng Long
Mặc ai mơ táo ước hồng
Ḷng quê em giữ một ḷng trước sau"

Đôi trai gái quen nhau, lâu ngày chàng từ giă nàng về thăm quê nhà, nhưng quá kỳ hẹn mà không thấy trở lại, nàng vừa hái dâu vừa đếm từng lá dâu, tính từng ngày xa cách:

"Anh về B́nh Định chi lâu
Bỏ em ở lại hái dâu một ḿnh"

hoặc là:

"Anh về Bồ Địch, Giếng Vuông,
No cơm ấm chiếu luông tuồng bỏ em"

Ngày xưa ở Việt Nam, đàn bà con gái giỏi nội trợ, biết làm bếp và nấu cơm. Có một số các cô con nhà giàu được cưng ch́u, một số cô khác v́ tuổi c̣n nhỏ chưa có kinh nghiệm trong việc nấu nướng, thổi cơm không chín:

"Tiếng đồn con gái Phú Trung
Nấu cơm không chín mở vung xem hoài
Tiếng đồn con gái Phú Tài
Nấu cơm không chín đốt hoài cơm khê"

Có những câu đối đáp giữa trai gái dưới ánh trăng thanh trong ngày mùa, hoặc trong đêm trăng giă gạo, hoặc các cô vừa cấy lúa vừa hát ḥ và đật câu hỏi đến người con trai:

"Tiếng đồn anh hay chữ
Tài ngang Cử, Tú
Lại đây em hỏi một đôi câu
Ngọt ngay nước chảy dưới cầu
Gọi cầu Nước Mặn cớ bởi đâu hỡi chàng"

hoặc là:

"Tiếng đồn anh hay chữ
Thường đọc sách Kinh Thi
Hỏi anh ông Văn Vương đi cưới bà Hậu Phi năm nào?"

Chúng ta nghe tâm sự của người dân thương mến chú Lía, người đă làm việc nghĩa, chia sớt phần tiền thặng dư của người giàu đến những người nghèo khó và đă bị quân triều đ́nh bao vây:

"Chiều chiều én liệng truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành".

B́nh Định có những ḥn tháp đẹp như Tháp Đôi, tháp Cánh Tiên, có Cầu Đôi nước chảy hai ḍng, có đèo An Khê mịt mù mây phủ:

"Cầu Đôi đứng cạnh Tháp Đôi
Đôi ta đẹp lứa đẹp đôi trên đời"

hoặc:

"Nước trên nguồn chảy tuôn ra biển
Cảm thương người một kiểng hai quê
Cầu Đôi liền lối đi về
Mịt mùng mây phủ An Khê, Phú Tài".

hoặc:

"Ngó lên ḥn tháp Cánh Tiên
Cảm thương ông hậu thủ thiền ba năm".

Câu ca dao dưới đây nhiều người đă nghe và thuộc ḷng từ khi c̣n nhỏ, măi đến lúc tuổi về chiều vẫn nhớ rành rành, qua sự đối đáp của người mẹ và người con:

"Mẹ ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ
Bắt ốc, ốc lủi vô bờ
Hái rau, rau héo mẹ nhờ ǵ đâu?"

Đập Đá là thị trấn thường được nhắc tới trong ca dao B́nh Định:

"Anh về Đập Đá đưa đ̣
Trước đưa quan khách sau ḍ ư em"

hoặc:

"Anh về Đập Đá quê cha
G̣ Găng quê mẹ, Phú Đa quê nàng".

Người con trai đi đường tán tỉnh người con gái và buông thả nhiều lời hứa hẹn, người con gái muốn buộc chặt những lời hứa nầy với người quen thấy mặt và Thần Đ́nh chứng giám:

"Giữa đường không tiện nói năng
Xửng mưa cùng xuống G̣ Găng tỏ t́nh
G̣ Găng có chợ có đ́nh
Người quen thấy mặt Thần Linh chứng lời"

G̣ Bồi, Cách Thử, Vũng Nồm là những nơi cung cấp nhiều cá, tôm ngon, ai đi qua cũng nhớ đến mùi nước mắm:

"G̣ Bồi có nước mắm cơm
Ai đi cũng nhớ cá tôm G̣ Bồi"

Măng le trên nguồn, cá chuồn dưới vũng là những sản phẩm trao đổi giữa miền cao rừng núi và miền biển:

"Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống cá chuồn gởi lên"

hoặc:

"Em về dưới chợ Kỳ Sơn
Mua tôm mua cá đền ơn mẹ già"

Sông Côn, Lại giang là đề tài của nhiều sử tích, nhiều câu chuyện t́nh phổ cập trong dân gian, ḍng sông cung cấp nước cho cánh đồng B́nh Định, tô thêm duyên sắc, sự chịu đựng đợi chờ của người con gái:

"Nước Lại giang mênh mang mùa nắng
Gịng sông Côn lai láng mùa mưa
Đă cam tháng đợi năm chờ
Duyên em đục chịu trong nhờ quản bao"

Bồng Sơn, Tam Quan là xứ dừa B́nh Định, dừa nhiều đến nỗi không thể nào tưới nổi:

"Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan"

Đồng Phó, Hà Nhung là nơi nổi tiếng về khoai lang, đậu phộng:

"Củ lang Đồng Phó
Đậu phộng Hà Nhung
Chồng ḅn, vợ mót bỏ chung một gùi
Chẳng qua duyên nợ sụt sùi
Chàng giận chàng đạp cái gùi văng đi..."

Nước uống càng đi lên nguồn là nước càng trong, món ăn càng xuống gần biển càng nhiều tôm nhiều cá:

"Muốn ăn đi xuống, muốn uống đi lên
Quán Ngỗng G̣ Chim Cầu Chàm Đập Đá
Vũng Nồm nhiều cá, Vũng Bấc nhiều tôm
Chợ chiều bán cơm, chơ mai bán gạo"

Người con gái bán nước trà xanh tại chợ Quán Mới thôn Lộc Thuận, Nhơn Hạnh, nổi tiếng là gái đẹp với mái tóc huyền và nụ cười duyên với má lúm đồng tiền, hàm răng hạt lựu đều đặn làm dừng bước giang hồ, chạnh ḷng người lữ thứ:

"Đi đâu vội vă anh ơi
Ghé chợ Quán Mới anh xơi chén trà
Hỏi em cha mẹ có nhà
Trước là thăm Bác sau là thăm em"

Ngày xưa, trai B́nh Định ra Huế thi, khi về mời gọi gái Huế theo chàng đến nơi có biển Đông sóng vồ, Tháp chàm ghi sử tích anh hùng hào kiệt:

"Mảng vui Hương thủy, Ngự B́nh
Ai vô B́nh Định với ḿnh th́ vô
Chẳng sang chẳng lịch bằng đất kinh đô
Nhưng B́nh Định không đồng khô cỏ cháy
Ba ḍng sông chảy, bảy dăy non cao
Biển Đông sóng vỗ dạt dào
Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh"

Có những câu trong dân gian trách cứ nhau:

"Giếng sâu thăm thẳm
Con chim trên cây cao nó đổ tăm tăm
Nghĩa nhơn anh tích để ngàn năm
Lẽ ǵ sớm viếng tối thăm duyên chàng
Nào ai ngờ bụng em ở dở dang
Sao mê xứ khác không phụ phàng đến ta đâu
Hồi nào anh nói em trao
Anh chờ em đợi ṭng cao bá tàn
Thôi thôi em ở dậy dương gian
Chồng em em giữ chứ nghĩa chàng em đừng quên"

Có nhiều chàng trai tham lam tán gái nhiều cô, bắt cá hai tay, cá không bắt được, chim bay mất về rừng:

"Chợ chiều nhiều khế ế chanh
Nhiều con gái quá cho nên anh chàng ràng
Chàng ràng bắt cá hai tay
Cá kia sẩy mất, chim bay về rừng"

Chợ Dinh được nhắc qua câu ca dao sau:

"Chợ Dinh bán nón quan hai
Bộ tua quan mốt, bộ quai năm tiền"

Dù rằng túng thiếu, giấy rách phải giữ lề, ăn mặc chỉnh tề:

"Ở đất ta nam thanh nữ tú
Sang đất nàng vượn hú chim kêu
Dù rằng anh hết gạo treo niêu
Cũng thắt dây lưng đỏ, bịt khăn điều thảnh thơi..."

Đôi khi người con gái phải xử trí khéo léo để tiện lợi đôi đàng:

"Giếng sâu nhiều mạch giếng trong
Em đây không phải con ḍng họ Phan
Cũng v́ chút nghĩa duyên chàng
Cho nên em phải lập đàng xuống lên"

Người con gái trách tṛ Ba, người học tṛ có ḷng dạ đen tối như lông đen con quạ, cánh đen con quạ:

"Con quạ đen lông đen cánh
Đỗ nhánh can cường
Tṛ Ba qủy quyệt quyết lường duyên em"

Trai gái có những lúc hẹn ḥ đối đáp nhau:

"Tới đây không hát th́ ḥ
Không phải con c̣ ngóng cổ mà nghe"

hoặc:

"Tưởng rằng đó địch cùng đây
Hay đâu đó giắt ông thầy sau lưng"

Tính nết đứng đắn của người con gái làm người con trai nể trọng:

"Ngó lên cây mít ít trái nhiều xơ
Con gái lẳng lơ trai kia bậy bạ
Con gái đàng hoàng trai nọ dám đâu..."

Chúng ta đă nghe một số câu đố phái nữ hỏi phái nam, và bây giờ chúng ta nghe nam hỏi nữ:

"Tiếng đồn chị hay chữ
Gái B́nh Định có tài
Nếu ông anh rể chị bên trong bị con ong nó cắn mà xỉu th́ làm thế nào chị cởi cái quần dài anh rể chị ra?"

Ca dao B́nh Định gồm nhiều thể loại khác nhau được truyền tụng trong dân gian qua nhiều thế hệ. Tôi sưu tập một số câu ca dao trên đây do sự truyền khẩu của một số bạn bè và người quen quê quán B́nh Định, xin cống hiến quí vị để nhớ lại quê hương xứ sở nằm phía bên kia bờ Đại dương, nửa ṿng quay trái đất:

"Ca dao B́nh Định thật hay
Câu thơ như giọt rượu cay ấm ḷng
Quê hương trái đất nửa ṿng
Ngày thương đêm nhớ như mong mẹ về"

ĐÀO ĐỨC BÍCH
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #15  
Cũ 08-09-2011, 02:36 AM
M&M M&M is offline
Tướng 4 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 1,146
Thanks: 84
Được cảm ơn 853 lần trong 484 bài
Default

Quảng Trị qua mấy vần ca dao
Người Thôn Dương

Thuở nhỏ, chúng tôi thường nghe Mẹ hát ru em, có những câu ca dao quen thuộc đối với người Quảng Trị, mỗi địa phương có thay đổi một đôi lời cho phù hợp với địa phương của ḿnh... Những câu ca dao đó đă thâm nhập vào tâm hồn tôi, khi xa quê, tôi thường ngâm nga cho đỡ nhớ quê nhà. Mỗi câu ca dao thường nhắc đến một địa danh và mang một mối t́nh quê, một câu chuyện trong lịch sử, có liên quan đến Quảng Trị. Chúng tôi xin sao lục lại để bà con ḿnh cùng nhớ về quê hương, nhất là giúp các bạn trẻ đôi chút hiểu biết về quê nhà.




Đưa anh tới chốn nhà Hồ,
Anh mua trái mít, anh bù trái thơm.
Trái thơm là trái thơm non,
Bổ ra làm tám ăn chon như dừa.
(chon: ḍn)
hoặc câu:
Yêu em, anh cũng muốn vô.
Sợ truông nhà Hồ, ngại phá Tam Giang,
Phá Tam Giang ngày rày đă cạn,
Truông nhà Hồ, nội tán phá tan.
Truông nhà Hồ tức làng Hồ Xá, thuộc huyện Vĩnh Linh, thời Nguyễn Hoàng, năm 1570, tướng nhà Mạc là Lập Bạo đem quân vào đánh Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng dùng mỹ nhân kế, bắt được Lập Bạo tại Bến Trảu, quân của Lập Bạo thua, một số ra đầu hàng, được Nguyễn Hoàng cho định cư ở vùng Bát Phường (nay là các làng Vạn Kim, Vạn Thiện...), một số chạy vào rừng, tụ tập thành đảng cướp ở vùng Hồ Xá, người qua lại trên đường từ Bắc vô Nam hay bị chúng đón đường cướp bóc. Về sau có Nội tán Nguyễn Khoa Đăng lập mưu vào tận sào huyệt của bọn chúng, giết được tên cầm đầu, từ đó mới yên.
Mẹ bồng con ra ngồi ái Tử,
Gái trông chồng đứng núi Vọng Phu.
Bao giờ nguyệt xế, trăng lu,
Nghe con chim quyên kêu mùa hạ, biết mấy thu gặp chàng
Đây là lối chơi chữ, ái tử là thương con, vọng phu là trông chồng. Cầu ái Tử trên đường Quốc Lộ I từ Quảng Trị đi Đông Hà, ngày xưa ở đây là băi cát hoang, Nguyễn Hoàng đóng quân ở đó, năm 1558, gọi là Dinh Cát. Nơi đó trước 1972, hăy c̣n một số di tích như mô súng (nơi đặt súng đại bác), chỗ đúc đạn, dấu chân thành và một số gạch xưa... Núi Vọng Phu ở tỉnh Phú Yên (đèo Cả).
Chẳng thơm cũng thể bạch đàn,
Chẳng trong cũng thể đá hàn chảy ra.
hay là:
Nước Đá Hàn ḥa trong ḥa mát,
Băi Cồn Cờ, nhỏ cát dễ đi.
Đá Hàn tên chữ là Thạch Hăn (hăn là mồ hôi), nước từ trong đó chảy ra, rất trong. Thạch Hăn hay Đá Hàn là tên một làng ở ngay thị xă Quảng Trị, cũng là tên con sông chảy qua
thị xă Quảng Trị. Băi Cồn Cờ là băi cát bên sông, nơi ngày xưa đóng quân có cột cờ.
Ru em, em théc* cho muồi,
Để mẹ đi chợ, mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
*théc: ngủ



Chợ Quán tức chợ Quán Hầu ở sông Nhật Lệ, Quảng B́nh. Chợ Cầu tức chợ bên cạnh cái cầu nhỏ ngày xưa, gần huyện lỵ Gio Linh. Tỉnh Quảng Trị. Nam Phổ và Chợ Dinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Trăm năm nhiễu nỗi hẹn ḥ.
Cây da bến có con đ̣ khác đưa.
Cây da bến cộ c̣n lưa,
Con đ̣ đă thác năm tê rồi.
(Cụ Thái Văn Kiểm viết là: Trăm năm dù lỗi hẹn ḥ…)
Đây là câu chuyện t́nh giữa cô gái chèo đ̣ duyên dáng và cậu học tṛ ngoài Bắc vô thi, qua đ̣ gặp gỡ rồi hẹn ḥ nhau. Cậu học tṛ thi đỗ trở lại th́ cô gái đă chết rồi. Ở Quảng Trị người ta hát là cây da chứ không phải là cây đa. Bến cộ tức là bến cũ (tiếng địa phương là cộ). Tê rồi là kia rồi.
Hết gạo th́ có Đồng Nai,
Hết củi th́ có Tân Sài chở vô



Quảng Trị có làng Tân Sài, đây là cách nói chơi chữ v́ Tân và Sài có nghĩa là củi. Đồng Nai là đất Biên Ḥa, là miền trù phú ở trong Nam.
C̣n biết bao câu ca dao như trên mà chúng tôi không nhớ hết, ước mong bà con đồng hương bổ túc thêm cho.
__________________
Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to M&M For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012), Hoang Thy Mai Thao (08-09-2011)
  #16  
Cũ 08-10-2011, 11:50 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


 Trèo Lên Cây Bưởi ...





Nguyễn Văn Thái



1

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay !

2

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra ?

3

Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen !



Cây bưởi đang có trái

Chùm thơ này đă có trong dân gian từ lâu ; nhiều người tưởng rằng nó là chỉ một bài ca dao thuần tuư ; mà đă là ca dao th́ không biết ai là tác giả. Gọi nó là chùm thơ v́ đây không phải là một bài mà là ba bài hợp lại, gieo theo thể liên vận, gắn với “Giai thoại Đào Duy Từ”.

Truyện kể rằng : Năm Đinh Măo (1627), Chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn bắt họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục, bèn cử đoàn sứ giả mang sắc vua Lê vào phong cho Săi Vương (Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và đ̣i Săi Vương phải cho con vào chầu, đồng thời phải nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền làm lễ vật cống nạp nhà Minh. Chúa Săi không chịu, nhưng bề ngoài chưa biết xử trí ra sao, bèn hội họp triều thần hỏi mưu kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Săi bước đầu cứ nhận sắc phong, rồi sau sẽ t́m kế đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, bấy giờ Lộc Khê hầu mới bàn với Săi Vương, sai thợ làm một chiếc mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc vua Lê phong kèm với một tờ giấy có 4 câu chữ Hán vào giữa, rồi hàn kín lại. Trên mâm cho bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi cử Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (Hà Nội này nay), tạ ơn vua Lê và Chúa Trịnh.

Nhờ có chuẩn bị trước, khi ra kinh đô yết kiến Chúa Trịnh, Lại Văn Khuông ứng đối rất trôi chảy. Chúa Trịnh hậu đăi, cho phép Khuông cùng phái đoàn sứ giả đi thăm kinh thành, để chờ Chúa dạy bảo. Trên đường đi, Khuông lén mở cẩm nang của Đào Duy Từ trao cho từ trước. Đọc xong, Khuông cùng cả phái đoàn lẻn trốn về Nam. Thấy phái đoàn sứ giả đột ngột trốn về, Chúa Trịnh sinh nghi, bèn cho người đập vỡ mâm lễ, lại thấy tờ sắc phong khi trước, và 1 tờ giấy viết bốn câu thơ chữ Hán sau :

« Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch ».

Cả triều đ́nh không ai hiểu ư nghĩa bài thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải cho mời một nhà nho thông thái uyên bác tới giải nghĩa. Đọc xong, nhà nho giải thích rằng :

Mâu nhi vô dịch nghĩa là chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ Dư ;
Mịch phi kiến tích nghĩa là chữ Mịch bỏ bớt chữ Kiến c̣n lại là chữ Bất ;
Ái lạc tâm trường nghĩa là chữ Ái để mất (lạc) chữ Tâm th́ thành chữ Thụ ;
Và Lực lai tương địch nghĩa là chữ Lực đối địch (tương địch) với chữ Lai là chữ Sắc.

Vậy, gộp cả 4 chữ mới lại thành câu : « Dư Bất Thụ Sắc » nghĩa là « Ta không nhận sắc phong »

Nghe xong, Trịnh Tráng vội thét lính đuổi bắt Lại Văn Khuông, nhưng lúc đó Khuông cùng cả phái đoàn đă cao chạy xa bay rồi.

Trịnh Tráng muốn ra quân đánh Chúa Nguyễn nhưng gặp lúc Cao Bằng và Hải Dương đều có giặc giă nổi lên, đành phải hoăn lại.

Trịnh Tráng cho người ḍ la biết được việc Săi Vương không nhận sắc phong đều do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ bày đặt ra cả. Chúa Trịnh tính kế làm sao để lôi kéo Lộc Khê bỏ Chúa Nguyễn (Đàng Trong) về với triều đ́nh vua Lê và Chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh lập mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật vào biếu Đào Duy Từ, kèm một bức thư riêng với 4 câu thơ :

1

« Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng anh tiếc lắm thay ! ».

Đây chỉ là một trong các loại hoa tầm xuân
(có màu xanh biếc, gần như là màu tím).

Lời thơ nói đến chuyện anh (Chúa Trịnh) và em (Đào Duy Từ) thuở nhỏ, trèo cây hái hoa bưởi, bước xuống vườn cà hái nụ hoa tầm xuân. Ư thơ trong như ngọc, là lời nhắn nghĩa t́nh, nhắc ông rằng tổ tiên, quê quán vốn ở Đàng Ngoài. Nếu trở về sẽ được triều đ́nh trọng dụng c̣n nếu không th́ ngầm ư đe doạ.

Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đă xây mộ cho cha mẹ tại B́nh Định để tránh bị Đàng Ngoài khống chế theo cách làm của Gia Cát Lượng đón mẹ của Khương Duy vào Hán Trung thuở xưa. V́ thế Đào Duy Từ không sợ hăi Chúa Trịnh trả thù ; và ông đă trả lại quà tặng và viết bài thơ phúc đáp Chúa Trịnh như sau :

2

« Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày c̣n không ?
Bây giờ em đă có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra ? ».

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó ḷng lôi kéo được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có câu kết, ư c̣n bỏ ngỏ, nên vẫn nuôi hy vọng, bèn cho người đem lễ vật nhiều hơn, và mang theo lá thư của Chúa Trịnh vào gặp Đào Duy Từ lần nữa.
Lần này, ông mới viết nốt hai câu kết gửi ra, để trả lời dứt khoát việc mời mọc của Chúa Trịnh. Hai câu đó như sau :

3

« Có ḷng xin tạ ơn ḷng,
Đừng đi lại nữa mà chồng (*) em ghen ! »

(*) Chồng, có ư nói là Chúa Nguyễn.

Từ đấy Đào Duy Từ ở lại giúp Chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng đất miền trong, mở mang bờ cơi đất nước ta cho đến lúc qua đời ... ”
(Nguồn : My Opera / Danh Nhân Story).
Vài điều nói thêm về Đào Duy Từ

Đào Duy Từ (1572-1634) sinh tại tỉnh Thanh Hoá. Ông rất thông minh nhưng ông không đươc dự thi v́ cha ông làm nghề ca hát. Ông giận Chúa Trịnh đối xử bất công cho nên ông bỏ vào Nam (dưới sự cai trị của Chúa Nguyễn)

Đào Duy Từ vào Nam, sống bằng nghề chăn trâu thuê cho một nhà giàu ở B́nh Định. Chủ nhà là người ham mê văn học, đă phát hiện ra Đào Duy Từ là người có tài, nên đă tiến cử Đào Duy Từ cho quan Khám lư Trần Đức Hoà. V́ mến tài của Đào Duy Từ, Trần Đức Hoà đă gả con gái cho, đồng thời tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau cuộc gặp gỡ với Đào Duy Từ, Chúa Săi đă phong cho ông làm Nha Uư Nội Tán.

Trong chín năm, từ 1625 đến 1634, Đào Duy Từ đă giúp Chúa Nguyễn xây dựng và mở mang bờ cơi về phương nam v́ ông có tài cả về chính trị, kinh tế, quân sự, và văn chương thơ phú nữa.

Trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn, ông đă xây một chiến luỹ để ngăn ngừa quân Trịnh. Chiến luỹ này chạy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, Đồng Hới, tỉnh Quảng B́nh. Người dân gọi chiến luỹ này là Luỹ Thầy (tức là luỹ do Thầy Đào Duy Từ xây dựng).
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #17  
Cũ 10-05-2011, 10:21 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


Người xứ B́nh Định - tại sao được gọi là "dân Nẫu"


Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, h́nh thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Ḥa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên . Do đặc điểm của vùng đất mới c̣n hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man.

Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lư một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.

Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...

Do sự phát triển của xă hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại kư lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.

Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.

Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ:
Ví dụ:

-Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm.
- Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu.
- Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.

Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên-B́nh Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng”, “bả”. Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”.

Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu”.

Nẫu đă đi vào ca dao B́nh Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:

Ai nề sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gở nỗi niềm nhớ quê

Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo B́nh Đê (ranh giới B́nh Định - Quảng Ngăi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”.

Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (B́nh Định - Phú Yên) không phân biệt rạch ṛi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngă. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (B́nh Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu-Phú Yên), các âm dấu ngă đều phát âm thành dấu hỏi.

Riêng đồng bằng Tuy Ḥa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngă. Bởi vậy, “Nẩu” hay được phát âm là “Nẫu”.

Đồng bằng Tuy Ḥa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “Nẫu”.

Nói nôm na, tiếng Nẫu là tiếng địa phương của vùng B́nh Định và Phú Yên có nghĩa là họ, hay người ta, v́ là "đại từ nhân xưng" nó nằm ở vị trí ngôi thứ ba vừa số ít mà cũng vừa số nhiều. Ví dụ thay v́ hỏi „Hôm nay người ta đi đâu mà nhiều vậy? „ th́ người dân B́nh Định và Phú Yên hỏi là „Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?“ hay „Cái nhà này là của họ“ th́ dân Nẫu sẽ nói là „Cái nhà nhà này là của nẫu“.

Chính v́ vậy mà khi ḥa cùng tất cả tiếng nói của mọi miền đất nước th́ tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được, thậm chí c̣n dùng những từ hoàn toàn khác với những từ thông dụng, ví dụ thay v́ nói „Vào tận trong đó“ th́ nói là „Dô tuốt trỏng“ hay hỏi "vậy hả?" th́ hỏi là „dẫy na?“, "dẫy ngheng" (vậy nghen hay thế nhé), "dẫy á" (vậy đó), "chu cha wơi" (trời đất ơi) v.v...


========== Thêm môt version ===========



....Người Việt ḿnh từ văn minh lúa nước mấy ngàn năm đến giờ đă nổi tiếng là “nhà quê”, cho dù có ở thành thị th́ vẫn là “dân nhà quê” so với các nước khác. Vậy thử hỏi trong đất Việt Nam ḿnh, xứ nào là “nhà quê” nhứt? Đó chính là “xứ Nẫu”. Tôi đi khắp Việt Nam, ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ Nẫu, tôi dân Nẫu, Nẫu nè, Nẫu ơi…
V́ sao "quê", v́ ngay cái chữ “Nẫu” nghe nó đă quê rồi. Nó khởi thủy là chữ “nậu”, là một từ cổ ở miền Trung Nam Bộ, theo cụ Vương Hồng Sển, nó cổ đến mức gần như là nguyên thủy, ngày nay không c̣n ai dùng. Từ “nậu” để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc theo nơi ở: ví dụ: "Nậu nguồn" chỉ nhóm người trên rừng, "Nậu nại" chỉ nhóm người làm muối, "Nậu rổi" chỉ nhóm người bán cá, "Nậu rớ" chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ, "Nậu cấy" chỉ nhóm người đi cấy mướn, "Nậu vựa" chỉ nhóm người làm mắm... măi sau, bằng nguyên lư tăng âm đặc trưng của dân Việt ḿnh: “ông + ấy = ổng”, “chị + ấy = chỉ”, th́ cái “nậu + ấy= Nẫu”.
Xứ Nẫu bắt đầu từ B́nh Định, Phú Yên và một phần của Khánh Ḥa. Cũng như các vùng miền khác, mà gần nhất là xứ Quảng, giọng nói người xứ nẫu không lẫn vào đâu được. Người xứ Nẫu luôn nói lớn tiếng, giọng nặng và hầu hết các âm tiết đều bị biến dạng theo hướng nặng hơn, khó phát âm hơn…khó đến nỗi chỉ người xứ Nẫu mới nói được, làm như cái cấu tạo thanh quản của dân xứ Nẫu đă khác đi so với người xứ khác. Nẫu (người ta), rầu (rồi), cái đầu gấu (gối), trời tấu (tối), cái xỉ (muỗng), tộ (chén)…người xứ Nẫu nói cho người xứ Nẫu nghe, cho nên từ ngữ quê mùa cục mịch, đến mức câu ca dao mẹ hát ru con cũng nặng tŕnh trịch, nhưng mà nặng nhất là cái t́nh:
Thương chi cho uổng công t́nh
Nẫu dźa xứ nẫu, bỏ ḿnh bơ vơ
Hồi nhỏ, mỗi lần tôi làm điều ǵ không đúng, ông nội tôi thường nói: “đửng làm dẫy, nẫu cừ” (đừng làm vậy, người ta cười), nhưng cũng có khi ông nội cho tôi thoải mái, muốn làm ǵ th́ làm, kể cả vấn thuốc rê của ổng ra sân ngồi hút ph́ phà như người lớn, v́: “nẫu cừ th́ kệ nẫu cừ, nẫu cừ lạnh bụng, hở mười cái răng”. Dân Nẫu đúng như giọng xứ Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, t́nh cảm nhưng hơi thô kệch…
Dân Nẫu đi đến đâu cũng là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của ḿnh. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lăm như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng răi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy” (nậu vậy), Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ ǵ về ḿnh, tốt xấu ǵ cũng mặc, “kệ nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt tḥi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, nẫu sẽ sống chết với bạn..................


s/t Net
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #18  
Cũ 02-06-2012, 10:31 AM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default


VỀ MỘT BÀI THƠ CHO D̉NG TRÀ GIANG



THÁI TƯỜNG

Sông Trà Khúc, con sông biểu tượng của Quảng Ngăi Núi Ấn Sông Trà – dài không quá 130 cây số ngàn, đă mang trên ḿnh nó những thắng cảnh của một thời vang bóng: Hà Nhai Văn Độ, Long Đầu Hư Thủy và cùng với Thiên Ấn tạo nên Đệ Nhất danh thắng của tỉnh nhà: Thiên Ấn Niêm Hà.
Cái non sông rất mực hiền ḥa:

Ai về xứ Quảng xa xôi,
Nhớ sông Trà Khúc sóng dồi lăn tăn...

Cái non sông đă sản sinh ra những thủy sản đặc biệt: Cá bống, cá thài bai và don, phát nguyên từ vùng núi cao giáp ranh với tỉnh Kontum, chảy qua quận Sơn Hà, xuôi về Đông, làm ranh giới cho 2 quận Sơn Tịnh và Tư Nghĩa, rồi chảy ra biển Đông bằng cửa Cổ Lũy, c̣n gọi là cửa Đại.

Con sông Trà Khúc thân yêu đó đă hai lần làm bối cảnh cho hai bài thơ dạt dào t́nh cảm của thi hào Cao Bá Quát:

-Trà Giang Thu Nguyệt Ca.
-Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc.

Trong Đặc San Quảng Ngăi Xuân Kỷ Măo 1999, tôi đă giới thiệu bài thơ "Trà Giang Thu Nguyệt Ca" (Bài Ca Trăng Thu Sông Trà) với 3 bản dịch của các dịch giả: Phan Huy Nhàn, Phước Hải, và Giản Chi.

Trà Giang Thu Nguyệt Ca là một trong mấy bài thơ tả trăng tuyệt vời của Cao Bá Quát, và một người Quảng Ngăi đă được cái diễm phúc nhận lời đề tặng của tác giả họ Cao: Ông Bảo Xuyên. Lần này tôi xin được giới thiệu bài thơ "Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc" (Cùng Bùi Thị Minh Trọng đêm đậu thuyền trên bến sông Trà Khúc).

Cũng giống như trường hợp nhân vật Bảo Xuyên, cho đến lúc này, chúng ta vẫn chưa t́m ra một tài liệu nào có nhắc đến tên tuổi của nhân vật Bùi Nhị Minh Trọng. Trong hoàn cảnh xa xứ hiện nay, cái nhu cầu cần t́m hiểu này lại càng khó khăn diệu vợi!

Căn cứ theo ư thơ của Cao Chu Thần, chúng ta phỏng đoán rằng họ Cao và Bùi Nhị Minh Trọng quen biết nhau chưa phải là lâu lắm:

Đồng du mạn thán phùng tương văn!
(Bạn cùng chơi với nhau những than hoài là gặp nhau đă muộn!)

Đây là lần thứ mấy Cao Bá Quát đến Quảng Ngăi? Chúng ta không biết được. Nhưng có một điều chúng ta có thể phỏng đoán là hai bài thơ cùng viết về sông Trà Khúc của họ Cao chắc chắn phải được sáng tác ở hai thời điểm khác nhau.

Thời điểm sáng tác của bài thơ Trà Giang Thu Nguyệt Ca thật rơ ràng: một đêm trăng mùa Thu có trăng sáng vằng vặc.

C̣n thời điểm sáng tác của bài Đồng Bùi Thị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc? Chắc hẳn phải là một đêm không trăng:

Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!
(khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo!)

Bởi không có trăng nên mới chịu thắp đèn để hàn huyên tâm sự!
Có một đêm trăng mờ ảo, neo thuyền trên bến Phong Kiều, nhà thơ Trương Kế đời Đường bên Trung Hoa nh́n "lửa đèn trên những chiếc thuyền câu, nh́n những cây phong bên sông" mà thấy ḷng ḿnh như chùng xuống một nỗi sầu vô hạn:

Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên!
(Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ! – Tản Đà)

C̣n Cao Bá Quát cùng bạn đậu thuyền trên bến sông Trà Khúc, trong cái ánh sáng mờ ảo dần dần đi vào đêm, nh́n băi cát uốn quanh, nh́n khúc sông chảy hiền ḥa trước mắt mà tưởng như khúc ruột của chính ḷng ḿnh đang quặn thắt tái tê!

Sa hồi giang tự sầu trường khúc!
(Băi cát uốn quanh, khúc sông trông như khúc ruột quặn đau)

Cái "sầu trường khúc" đó mang tâm sự u uẩn của Vương Xán, Thái Ung.
Vương Xán, tự là Trọng Tuyền, người nước Ngụy thời Tam Quốc, xa quê đi làm quan ở đất Kinh Châu với Lưu Biểu, có làm bài Đăng Lâu Phú (Bài Phú Yên Lầu) nổi tiếng một thời nói lên t́nh cảm nhớ nhà, nhớ quê tha thiết của ḿnh. Cao Bá Quát cũng đă mang cái tâm sự nhớ nhà, nhớ quê da diết như của Trọng Tuyền.

Và tâm sự của Thái Ung mới chính là cái tâm sự bi phẫn của họ Cao.
Thái Ung, tự là Bá Giai, một học giả nổi tiếng đời Hán Linh Đế. Khi tên Tướng quốc đại gian hùng là Đổng Trác âm mưu cướp ngôi nhà Hán để thu phục nhân tâm, y đă hù dọa buộc Thái Ung ra làm quan cho ḿnh. Cao Bá Quát bất đắc dĩ phải uốn ḿnh ra làm quan cho triều Nguyễn có khác ǵ Thái Ung phải bất đắc dĩ giữ chức Trung Lang Tướng cho tên phản thần Đổng Trác?

Ôi! Cái bầu tâm sự bi phẫn đó đă được họ Cao thổ lộ cho một người bạn là con dân của miền núi Ấn, sông Trà: Bùi Thị Minh Trọng.

Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!
(khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo!)

Một đêm tiễn bạn trên bến Tầm Dương, một khúc sông Trường Giang chảy qua tỉnh Giang Tây bên Trung Hoa, quan Tư Mă đất Giang Châu là Bạch Cư Dị đời nhà Đường đă than:

Tọa trung khấp hạ tùy tối đa?
Giang Châu Tư Mă thanh sam khấp!
(Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu Tư Mă đượm mùi áo xanh
Phan Huy Vịnh)

Giọt lệ của Bạch Cư Dị đời nhà Đường bên Trung Hoa và giọt lệ của Cao Bá Quát đời nhà Nguyễn bên Việt Nam – hai giọt lệ bi phẫn đa t́nh của hai bậc thi hào đâu có khác ǵ nhau!
Sau đây tôi xin lục đăng bài thơ "Đồng Bùi Nhị Minh Trọng Trà Giang Dạ Bạc" để bà con đồng hương chúng ta cùng thưởng lăm:

Nguyên tác: (phiên âm)

ĐỒNG BÙI NHỊ MINH TRỌNG TRÀ GIANG DẠ BẠC

Nhược lăm nguy can tố lăng tŕ,
Cao sư thôi hoán bạc tiền ky
Sao hồi giang tự sầu trường khúc,
Mộ tĩnh phong như tửu lực vi
Dị địa bất câm Vương Xán cảm,
Đương niên thùy phóng Thái Ung quy?
Đồng du mạn thán tương phùng văn,
Tiễn chúc luân tâm lệ tiễn y!

Dịch nghĩa:

CÙNG BÙI NHỊ MINH TRỌNG ĐÊM ĐẬU THUYỀN TRÊN BẾN SÔNG TRÀ

Dây mảnh, sào yếu ngược sóng đi rất chậm,
Bác lái dục thuyền đậu vào bến đá phía trước.
Băi cát uốn quanh, khúc sông trong như khúc ruột quặn đau.
Buổi chiều lặng lẽ, sức gió nhẹ như hơi men phảng phất.
Nơi đất khách khôn ngăn được nỗi cảm của Vương Xán,
Tưởng khi ấy ai đă chịu cho Thái Ung về?
Bạn đồng du những than hoài là gặp nhau đă muộn,
Khêu ngọn đèn, nói chuyện tâm sự mà lệ rảy khắp áo.

Dịch thơ:

Sào non, dây mảnh ngược lâu thay,
Chú lái ḥ nhau đỗ bến này.
Băi uốn, sông như sầu quặn khúc,
Tối ch́m, gió tựa rượu hơi say.
Thái Ung năm ấy về ai để?
Vương Xán hồn quê rộn lúc này.
Cùng hội, cùng thuyền than gặp muộn,
Khêu đèn tâm sự lệ vơi đầy.
(Theo bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ của cụ Hoa Bằng)
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012)
  #19  
Cũ 02-09-2012, 01:20 PM
Hoang Thy Mai Thao Hoang Thy Mai Thao is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 9,410
Thanks: 1,327
Được cảm ơn 3,653 lần trong 2,391 bài
Default



T́nh quê hương qua ca dao


Lê B́nh
Saturday, 04 February 2012 09:46

Vào đem gia thừa năm nay, trời xui đất khiến hay sao…mà tôi lại mở một bản nhạc đợi giao thừa th́ nó trung ngay một bài…coi như là “bói nhạc” đầu năm…Bài đó co tên Đêm Giao Thừa Nghe Một Khúc dân Ca của Vơ Đông Điền, qua giọng ca của Hương Thủy.

Ư mèn đét Thiên Địa Quỷ Thần ơi…sao mà nó lâm ly lạ kỳ…nghe xong nổi da gà luôn…Lời và nhạc …nó làm sao đó khó nói lắm…Nó như vầy “Đêm giao thừa nghe một khúc dân ca, Bài dân ca tha thiết đậm đà, Từ tha hương nghe bài dân ca, Câu dân ca ấm ḷng người đi xa, Nghe nôn nao như chiều 30 Tết, Bếp than hồng mẹ nấu bánh chưng xanh, Lời dân ca như phù xa con sông.

Thương quê hương thương vườn cau luống rau, Câu dân ca giao thừa nơi xa xứ, Có mùa xuân đến từ quê nhà…” Ư cha mẹ ơi, lần đầu tiên tôi nghe….nó lạnh trong xương sống, nó tê mê như uống chén rượu nồng….đế G̣ Đen, đế Bà Điểm. Ngoài lời ca tiếng nhạc c̣n có tiếng nhịp ong lang nghe cốc cốc….nó mời đă làm sao. Thế mới biết ngày xưa Trương Lương làm ră rời một đoàn quân.

Nhạc, nếu biết khai thác…nó có ảnh hưởng thật mănh liệt.

Tôi bừng tỉnh…chết thiệt chớ chẳng chơi. Nếu mà nâng lên “hàng quan điểm” th́ thằng cha nhạc sĩ nầy chả đang chơi “NQ 36” đây. Ai th́ tôi không biết, nhưng vói tôi, bài ca nầy nó có sức thẩm thấu thật sâu. Nếu nói tha thiết th́ chưa đủ nghĩa, nói đậm đà t́nh dân tộc th́ cũng c̣n thiếu…Diễn tả làm sao cà? Th́…cứ như vầy “Uống nước nóng lạnh tự biết”. Vậy đó, khó nói lắm. Tuy nhiên, “quan điểm” hay 35, 36 ǵ ǵ đó cũng chẳng sao.

Tôi thừ người ra. Ông bà của người Việt ḿnh hay thiệt là hay, văn chương học lực chẳng bằng ai, không tiến sĩ, cũng chẳng bác vật…vậy mà có những lời ca, câu hát, điệu ḥ…ma đi đâu …cũng có đôi khi làm cho ḿnh đứt ruột. Nhất là ḿnh đang ở xa quê hương.

Hôm nay, mục Nhịp SốngViệt xin được trở về thăm quê qua những câu ca dao, tục ngữ, dân ca.

Thôi khỏi định nghĩa chi cho mất công, bởi v́ ai ai cũng biết ca dao, tục ngữ…v.v. là cái ǵ rồi. Có người c̣n thuộc làu làu hàng chục, hàng trăm câu ca dao, mặc dù mù chữ. Thiệt đó, ngoại tôi, một bà già “quê rích quê rang”, h́nh như chưa có lần nào biết đến “Thầy G̣n”…vậy mà Kiều thuộcnhư cháo, ca da tục ngữ, ḥ…chứa một bụng, như các nhà hiền sĩ “Binh giáp tàng hung trung”. Nói cái ǵ bà cũng đệm một câu. Nhắc đến quê…bà phán ngay chốc:

“Cho em trở lại đường xưa
Để em t́m lại gốc dừa cạnh ao
Lời anh âu yếm chiều nào
Thoảng vang trong gió ŕ rào chớm thu”

Cứ như là thơ.

“Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm.
Chuông hôm gió sớm trăng Rằm,
Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi.
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa.”

Nghe mà đă lỗ tai luôn. Chớ chi bà là trai..chắc đắc đào mời là dữ thần ôn luôn nha.

Nhắc đến nhà quê th́ mớinhớ…Trai thanh gái lịch ở ruộng, nói noà ngay chẳng có ai đượchọc hành dỗ đạt ǵ, vậy mà cứ mùa gặt mùa cấy…hoặc chống xuồng trên kinh, rạch, gặo lúc giómát trăng thanh th́…ca dao, ḥ vè…cứ mà bay lơ lững trong không khí đượm mùi lúa chín, mùi sen nở, mùi bông lựu, bông mù u.

“Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.
Ruộng ai th́ nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.”

Gặp mấy nàng như vầy th́ các anh có nước mà độn thổ luôn. Đối đáp làm sao mà đặng? Đừng có nghĩ quê hương ḿnh nghèo, dân ḿnh ít học…mà khinh nha. Một cô gái nop1i nhưvầy th́ trả lời, trả vốn làm sao? Chỉ có nước mần thinh là ăn chắc.

“Đố ai lượm đá quăng trời,
Đan gàu tát biển ghẹo người cung trăng.”

Hoặc

“Đừng thấy miếu rách mà khinh,
Miếu rách mặc miếu, thần linh hăy c̣n.”

Đó là những câu ca dao , tục-ngữ, dân-ca trong nền văn chương (văn học) b́nh-dân. Không biết có từ đời kiếp nào, mỗi ngay mỗi thêm …và ông già, bả lăo, thanh niên thiếu nữ…thuộcnằm ḷng. Không biết những anh ở tỉnh, ở thành…bác học, tiến sĩ….có thuộc hay không. Chẳng biết. Nhung cứ về miệt ruộng mà coi. Dường như từ năm chí bắc, từ ruộng đồng đến chốn đèo heo hút gió…Nhớngày xưa trong tuyện của Tự Lực Văn Đoàn có cô thôn nữ “Hỡi anh đi đường cái quan, dừng chân đứng lại cho em hỏi han đôi lời…” Ghẹo người ta mà văn chương ghê gớm chưa? Thưở nay văn minh lắm rồi, không biết có c̣n những cảnh “trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”…mà người ta có “tán tỉnh, chọc ghẹo” văn minh như ngày xưa không?

" Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ.
Nhện ơi! nhện hởi! nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao Mai,
Sao ơi! sao hởi! nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải Ngân hà,
Bóng sao Tinh-đẩu đă ba năm tṛn,
Đá ṃn, nhưng da chẳng ṃn,
Tào-khê nước chảy vẫn c̣n trơ trơ..."

Việt Nam của minh ngày xưa tre xanh bao bọc làng quê , và sau hàng tre xanh đó, đời sống và t́nh cảm của người ḿnh tha thiết, đậm đà, thân thương, tŕu mến…đă có cả một kho tàng văn chương tuy là là “b́nh dân”, nhưng chứa trong ḷng nó một nền tảng “bác học” nghiên cứu hoài chưa đến đáy…Và nó là nguồn gốc của tinh thần…Việt Tộc, là Rồng Tiên.

Không bác học mà người dân quê có những câu hóc búa như vầy:

" Đố ai biết đá mấy ḥn?
Tua-rua mấy chiếc, trăng tṛn mấy đêm?
Đố ai biết lúa mấy cây?
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng?
Đố ai quét sạch lá rừng?
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Đố ai lặn xuống vực sâu,
Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa?
Đố ai nằm vơng không đưa,
Ru con không hát? Ta chừa nguyệt hoa."

Wow! Hết biết chưa. Và dường như những câu nầy trở thành một bài hát rất được ưa thích?

Và quê hương của ḿnh đó có đời sống thật tuyệt vời, không cần nhà tiền triệu, du lịch bằng cruise, đi xa láng o láng cóng…v.v. Cuộc sống của người ḿnh th́ như vầy

" Tháng Giêng ăn Tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Tháng Tư, đong đậu nấu chè,
Ăn Tết Đoan-ngọ, trở về tháng Năm.
Tháng Sáu buôn nhăn, bán trăm,
Tháng Bảy, ngày rằm, xá tội vong nhân.
Tháng Tám, chơi đèn kéo quân,
Trở về tháng Chín, chung chân buôn hồng.
Tháng Mười, buôn thóc, bán bông,
Tháng Một, tháng Chạp, nên công hoàn toàn..."

Toàn là hội với hè,chà với cháo…thiệt là sung sướng, choó có đâu như bâygiờ…mời bảnh con mắt, con gà vừa nhảy xuống đất th́ con người cũng lật đật tung mền ngồi dậy, ngáp dài ngắp ngắn lo ăn lo tắm lo chở con đến trựng và tất bật nhào vô hăng….đến chiều tối mới về đến nhà th́ thở hếtra hơi…cứ vậy quanh năm suột tháng…Cái nầy ông bà ḿnh đă nói rồi

" Áo dài chớ tưởng là sang,
Bởi không áo ngắn, mới may áo dài."

Trong đời sống hằng ngày th́ cũng có câu như thấ nầy:

" Hơn nhau tấm áo, manh quần,

Thả ra ai cũng ở trần như ai."

" Trời làm một trận lăng nhăng,
Ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông."

Và quê hương ḿnh đó cũng có nhiều chuyện để nhớ chớ chẳng không? Nh́n ra ta chẳng bằng ai, nh́n lại th́ cũng chẳng ai bằng ḿnh. Đừng đi đâu xa. Đây nè!

"Ai ơi đứng lại mà trông
Ḱa núi Thành Lạng, ḱa sông Tam Cờ"

"Đồng Đăng có phố Ḱ Lừa,
Có nàng Tô Thị , Có chùa Tam Thanh"

"cao nhất là núi Ba V́,
Thứ ba Tam Đảo , thứ nh́ Độc Tôn"

"Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan.

" Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem chùa Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên , Tháp Bút chưa ṃn,

" Đông Ba , Gia Hội hai cầu
Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông"

" Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia định, Dồng nai th́ vê."

" Đồng Tháp Mười c̣ bay thẳng cánh.
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm"

Bà con ḿnh đă đi hết chưa? Đă ăn được miếng mắm ba khía ở Cà Mau? Miếng mắm thái ở Châu Đốc? Đă qua phà Châu Giang, ngồi xuồng trên ḍng Vĩnh Tế. Đă đến Bắc Vàm Cống? Được ăn thịt chuột ở Cao lănh, uống trà sen ở Đồng Tháp Mười?...

Nhiều lắm.

Chỉ nghe một câu ca dao…giữa đêm giao thừa trên đất khách…nó đă dẫn tôi đi qua muôn dặm ngh́n trùng. Nhớ thiệt chớ chẳng chơi.

Lê B́nh
Reply With Quote
The Following 3 Users Say Thank You to Hoang Thy Mai Thao For This Useful Post:
ansi21 (03-29-2012), KienHoa (04-25-2012), tran56 (03-22-2012)
Trả lời

Tools
Display Modes

Điều lệ Đăng Bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies are Mở
[IMG] code is Mở
HTML code is Tắt

Forum Jump


Tất cả thời gian được căn cứ theo giờ Quốc Tế GMT. Giờ địa phương của bạn là 06:23 PM.


Nội dung và bản quyền của những bài viết hay quảng cáo trên trang Web này thuộc về tác giả. TheGioiNguoiViet.Net không chịu trách nhiệm về nội dung của những bài viết, của những bài góp ư hay quảng cáo. Chúng tôi giành quyền loại bỏ những bài không phù hợp với chủ trương của Diễn Đàn.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.