TGNV TheGioiNguoiViet.Net

Diễn Đàn Tổng Hợp Thông Tin, Nghị Luận Thời Sự, Văn Học, Khoa Học, Tôn Giáo, Lịch Sử, Văn Nghệ Giải Trí

    Nhac Đấu Tranh   Nhac Quê Hương   Nhac Lính   Nhac T́nh   Nhac Ḥa Tấu    Cải Lương, Tân Cổ    Ngâm Thơ    Truyện   

                         

Trở lại   Diễn đàn Thế Giới Người Việt > 03. Diễn Đàn Việt Nam > Những Nẻo Đường Việt Nam
T́m Kiếm Bài mới hôm nay Đánh dấu Diễn Đàn đă đọc

tgnv

Pḥng Games Online

Chuyện Phải Nói

Đề Tài Nổi Bật

Chuyện con số 3 và dự báo CSVN sẽ sụp đổ

Việt Nam sẽ thay đổi mầu cờ và chế độ vào năm 2014 do dân lật đổ

'Bố già' Kiên đă bị bắt

Dương Chí Dũng đă bị bắt

Trầm Bê xin được quản thúc

Chủ tịch Eximbank sắp bị bắt

Đ̣n phản công của 3 Dũng: Không nhả vị trí Trưởng Ban chống tham nhũng

Đánh án Kiên “bạc” chỉ là một phần của chuyên án chính trị bảo vệ chế độ

Âm mưu ám sát Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đang khẩn trương

Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu nhập cuộc. Chủ tịch Tập đoàn Masan bị bắt

Hồ Hùng Anh đă bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm

Tài Sản Khổng Lồ Của Cha Con Nguyễn Tấn Dũng

Ba Dũng đă chuyển 4 tỉ đô qua Đan Mạch

Từ bầu Kiên tới trùm Năm Cam

Thống đốc Nguyễn Văn B́nh?

Đảng CSVN thực chất đă tự tiêu vong

Đảng CSVN sắp tháo chạy...

Việt Nam tự ch́m dần trong quỹ đạo Trung Quốc 

Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Truyền H́nh Trung Quốc công khai kế hoạch đánh chiếm Việt Nam

H́nh Ảnh Quân Đội Trung Cộng tiến về biên giới Trung-Việt (8.2011)

Tại sao Trung Quốc vẫn nằng nặc đ̣i sát nhập VN vào lănh thổ của họ?

Thái Hà: Điểm khởi đầu sự sụp đổ Chế độ CSVN

Trung Quốc ăn thịt người dă man !

 

Pḥng Sinh Hoạt TGNV

Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)

 

Nơi phơi bày những cái rởm của CSVN: Bọn Quan trí thấp khoe thành tích, Một lũ luồn trôn hít với hà... (Chủ Quán: Doremi)

 

Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)

 

Nơi đây là chỗ kén chồng, Chàng nào đến Quán, nhớ gồng ḿnh nghen ! (Chủ Quán: Năm Trầu)

 

Nơi giới thiệu những bản nhạc hay và cũng là nơi bạn có thể yêu cầu những bản nhạc bạn muốn nghe (Chủ quán: Camly)

 

Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam

 

Nơi trao đổi những thông tin liên quan đến Thị trường Tài Chánh, Chứng Khoán, Vàng Bạc... tại Việt Nam và trên toàn Thế giới (Dr_Tran phụ trách)

 

Pḥng Audio TGNV

Nhac Đấu Tranh

Nhac Quê Hương  

Nhac Lính  

Nhac T́nh  

Nhac Ḥa Tấu   

Cải Lương, Tân Cổ 

Nghe Ngâm Thơ   

Nghe Truyện

Trả lời
 
Tools Display Modes
  #31  
Cũ 01-25-2013, 03:45 PM
Camly Camly is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 7,724
Thanks: 1,676
Được cảm ơn 1,569 lần trong 1,240 bài
Default



Ngày Xuân tản mạn về rượu

Khi đời sống xă hội phát triển th́ việc uống rượu là một nhu cầu tất yếu, thậm chí người ta c̣n cổ xúy cho một h́nh thái “văn hóa uống rượu”.
Từ trên 7.000 năm trước, khi mà loại thức uống có cồn được t́nh cờ tạo ra (đầu tiên là sản phẩm lên men từ trái cây), tổ tiên ta đă hân hoan, gọi sản phẩm này như là “quà tặng của Thượng đế”.
Trong những ngày chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, chúng ta cũng nên dành một chút thời gian suy ngẫm đôi điều về rượu.
Rượu với đời sống xă hội:
Chúng ta rất dễ đồng t́nh với vai tṛ của rượu trong nghi thức ngoại giao, lễ Tết, tiệc tùng...
Trong cuộc sống thường nhật, rượu đôi khi là tri kỷ khi ta buồn, vui;nhưng uống rượu và cung cách uống là hoàn toàn khác nhau.
Kiểu “độc ẩm” là của kẻ có tâm sự (chẳng hạn bị vợ mắng!) hoặc khi thất t́nh!, kiểu uống “đa ẩm” là khi thù tạc với bạn bè…
Nói chung là có cả ngh́n lư do để người ta uống rượu!
Vậy nên:
Khi buồn đối bóng nâng ly,
Khi vui bè bạn ly b́ cuộc say Sau đây xin trích dẫn một số câu thơ bất hủ có hơi hướng từ rượu.
Rượu và thơ:
Trước hết hăy xin trích lại đoạn thơ của Đại thi hào Nguyễn Du, qua tâm sự nàng Kiều lúc nâng chén rượu tiễn đưa Thúc Sinh trở lại quê nhà:
Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay,
Chén mừng xin đợi ngày này năm sau.
C̣n đây là phong thái phóng túng của cụ Tản Đà:
Có tiền chưa dễ mà tiên,
Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây.
Thương ai cho bận ḷng đây
Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ!

Chúng ta cũng dễ thông cảm với lời tự biện ngông nghênh của chính cụ:
Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư th́ hư vậy say thời cứ say!

Ai đă từng yêu, hăy cùng chia sẻ cảm xúc qua vần thơ của chàng “thi sĩ t́nh yêu” Hàn Mặc Tử:
Bóng hằng trong chén ngả nghiêng
Lả lơi tắm mát làm duyên gợi t́nh

Hay da diết, cuồng si của Vũ Hoàng Chương:
Em ơi lửa tắt b́nh khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai!

Nhiều người yêu mến cụ Tú Xương qua sự chí t́nh với vợ:
Mỗi năm Tết có một lần
Mời em ly rượu tay nâng ngang mày
Rồi tiếp lời trần t́nh, an ủi “hiền nội” thật cảm động:
Tóc loay hoay bạc bạc dần
Mỗi năm Tết có một lần thôi em!

Những người lớn tuổi dễ có sự đồng điệu với triết lư về cơi nhân sinh của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài “Nhắp rượu”:
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp
Nh́n xem phú quư tựa chiêm bao

Trong Đường thi, Lư Bạch là bậc thầy của “rượu và thơ”. Ở ta, Tản Đà cũng có cái “ngông” của Lư Bạch. Ông mượn thơ và rượu để nói lên cái u uất, khát vọng và t́nh người qua bài thơ “Ngày xuân thơ rượu”:
Trời đất sinh ra rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ
Đối với cụ Nguyễn công Trứ, khi trời đất vào Xuân th́ sau thú chơi đàn, đánh cờ là uống rượu, ngâm thơ.
Đây cũng là thú tiêu khiển tao nhă của các bậc hiền nhân:

Đàn năm cung réo rắt tính t́nh đây, Cờ đôi nước, rập ŕnh xe ngựa đó, Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà


C̣n nhiều vần thơ, câu hát nói về rượu thâm thúy, thi vị không kể hết
Dẫu sao đó cũng là nét chấm phá sinh động trong đời sống con người.
Chỉ tiếc trong xă hội ngày nay nhiều người uống rượu kiểu “tửu hoại”, nghĩa là mượn rượu để quậy “tới bến” từ gia đ́nh ra xă hội!
V́ vậy nên xin can với kiểu uống bạt mạng như một Blogger trên diễn đàn Internet:
Một chai cảm thấy b́nh thường.
Hai chai cảm thấy t́nh thương dạt dào.
Ba chai cảm thấy nao nao.
Bốn chai cảm thấy … thằng nào cũng chơi!

Rượu với sức khỏe:
Nếu uống rượu kiểu tao nhân, mặc khách; uống rượu v́ nghi thức, xả giao hay chúc mừng có lẽ không ai trách. Nhưng mượn rượu như phương cách quên đời; tệ hại hơn là chôn vùi đời trai trẻ suốt ngày trong b́nh rượu kiểu Lưu Linh là không ổn.
Hậu quả là cơ thể suy nhược, ngộ độc, viêm loét dạ dày, xơ gan, loạn thần…
V́ vậy trong dân gian đă từng cảnh tỉnh về sự thái quá:
Anh ơi uống rượu th́ say Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo. Mang bầu đến quán rượu dâu Say hoa đắm nguyệt, quên câu ân t́nh Rượu lạt uống lắm cũng say Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm!
Tóm lại uống rượu có văn hóa và điều độ là điều không xấu, nhưng phải biết tự chủ.
Hải Thượng Lăn Ông từng đă dạy: “Bán dạ tam bôi tửu, b́nh minh nhất trản trà, nhật nhật ư như thử, Lương y bất đáo gia”
(Nghĩa là: Buổi tối uống ba ly rượu (nhỏ), sáng ra uống tách trà, ngày nào chỉ như vậy, thầy thuốc khỏi đến nhà)
Đàm Hồng Hải
Reply With Quote
  #32  
Cũ 02-01-2013, 10:38 PM
Camly Camly is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 7,724
Thanks: 1,676
Được cảm ơn 1,569 lần trong 1,240 bài
Default Sự tích tục cúng ông Táo ngày 23 tháng chạp



Đầu tiên là truyền thuyết về Táo quân:
Táo Quân, Táo Vương hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà và thường được thờ ở nơi nhà bếp

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lăo giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà” – vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc.
Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị nhất thể (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo.

Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất.
Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về t́nh tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đă lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay căi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng ḷng làm vợ Phạm Lang.
Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại ḿnh cũng có lỗi nên đi t́m vợ.

Khi đi t́m v́ tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.
Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, th́ hai bên nhận ra nhau.
Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ ḷng ân hận v́ đă trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây th́ khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng.
Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đă chết bởi sự sắp đặt của ḿnh nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp t́nh cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.
Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:
Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt.
Trong bếp ngày xưa, thường có ba “ông đầu rau” – tức là ba ḥn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai ḥn nhỏ hơn ḥn thứ ba.
Và có tục lệ thờ “hai ông một bà”, ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm “lễ Táo quân”, “Tết ông Công ông Táo”, “tiễn ông Táo lên chầu Trời”…
Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa – một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác.
Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (c̣n được gọi là “Táo thần”, “Táo vương”, “ông Táo”) đă được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ.

Nhưng nguồn gốc của Táo quân th́ không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp.
Sách Lă Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lư lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa.
C̣n sách Tây Dương tạp trở th́ kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi…
Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đ́nh (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp.

Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp “ăn” để bay và chở vua lên trời – khác với Táo quân của ta th́ cưỡi cá chép lên trời).

Lễ cúng Táo quân
Lễ cúng Táo Quân ngày 23 tháng Chạp được coi là mang tính cách chuyển giao năm cũ, đón chào năm mới.
Người ta chuẩn bị chu đáo cho chiều 30 là thời điểm đón ông Công ông Táo trở về trần gian làm nhiệm vụ năm mới.

Lễ vật cúng Táo Quân gồm có: mũ ông công ba cỗ hay ba chiếc (hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà).
Mũ dành cho các ông Táo th́ có hai cánh chuồn, mũ Táo bà th́ không có cánh chuồn.
Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ h́nh tṛn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ.
Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấỵ

Màu sắc của mũ, áo hay hia ông công thay đổi hàng năm theo ngũ hành:

+ Năm hành kim th́ dùng màu vàng
+ Năm hành mộc th́ dùng màu trắng
+ Năm hành thủy th́ dùng màu xanh
+ Năm hành hỏa th́ dùng màu đỏ
+ Năm hành thổ th́ dùng màu đen

Những đồ “vàng mă” này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Quân.
Bài vị ở bàn thờ thổ Công thường ghi: “Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Thổ Địa long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”.
Khi sửa lễ cúng ông Công, người ta đều đốt bài vị cũ, thay bài vị mới.

Sau khi lễ xong th́ hoá vàng, hoá luôn cả cỗ mũ năm trước và thả một con cá chép c̣n sống xuống ao, cá sẽ hoá rồng để ông công cưỡi lên chầu trời.
Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta c̣n cúng Táo Quân một con gà luộc nữa.



Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ư nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!
Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc Việt Nam người ta c̣n cúng một con cá chép c̣n sống thả trong chậu nước, ngụ ư “cá hóa long” nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông táo về trời.
Con cá chép này sẽ sau đó được “phóng sinh” (thả ra ao, hồ hay sông).
Tại miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Ở miền Nam th́ giản dị hơn, người ta chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy.
Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân gị luộc, các món nấu nấm, măng…v…v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v…v..) để tiễn Táo Quân.
H́nh ảnh Táo Quân – vua bếp cũng trở nên gần gũi với cuộc sống hiện đại hơn với quan niệm gia đ́nh nào được Táo Quân phù hộ nhiều th́ hạnh phúc, yên ổn, thành đạt, bếp đỏ lửa mỗi ngày.
Những gia đ́nh không có điều kiện đỏ lửa mỗi ngày để ông vua bếp làm nhiệm vụ th́ ngầm hiểu là Táo Quân chưa hoàn thành nhiệm vụ giữ ǵn tổ ẩm gia đ́nh một cách trọn vẹn.

St-phongtucVN,Cinet
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to Camly For This Useful Post:
KienHoa (02-02-2013)
  #33  
Cũ 02-05-2013, 02:18 PM
Camly Camly is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 7,724
Thanks: 1,676
Được cảm ơn 1,569 lần trong 1,240 bài
Default

Ngày Tết nói chuyện Phúc Lộc Thọ



Có lẽ con người là con vật duy nhất trong muôn loài có được ư thức về tự thân tức là nhận biết ra vị trí của chính ḿnh trong vũ trụ (1).
V́ vậy người xưa nói rằng: "Nhân linh ư vạn vật" (con người linh thiêng hơn muôn vật).
Chữ "linh" trong lối chữ Nho tượng h́nh và biểu ư gồm bộ "vũ" là mưa, hợp với ba chữ "khẩu," tức nhiều cái miệng cầu khấn, cùng với dưới là chữ "vu" có nghĩa là người thầy pháp tức ông đồng bà cốt làm việc thông thương giữa người thời nguyên thủy bộ lạc và trời đất.

Linh thiêng là lối đọc trệch đi của chữ "linh thính" tức là nghe ra sự cộng thông của xă hội nông nghiệp cầu khấn mưa cho vụ mùa tốt tươi với cơi tự nhiên.
Như vậy là với con người nguyên thủy sự tôn trọng nhất được dành cho đời sống và nền tảng của đời sống là trời đất, không thể tách ĺa với hoạt động kinh tế cụ thể của cộng đồng. Mọi thứ linh thiêng khác, tách ĺa với khung cảnh tự nhiên và kích thước đích thực của đời sống con người chỉ là sự tha hóa và đồi trụy của tầng lớp thống trị hay quyền lực thế

Ư thức về tự thân, về cộng đồng, và về trời đất tức khung cảnh sống chính là cái mốc đánh dấu con người vượt thoát khỏi lối sống bản năng, hồn nhiên và im ĺm của muôn loài; sự vượt thoát ấy từ cơi hỗn độn (chaos) sang một trật tự vũ trụ (cosmos) của không và thời gian.
Cách nay hơn 100 năm thuyết tương đối của Albert Einstein lần đầu tiên (1905) dùng vật lí toán học để chứng minh sự tương tục không gian - thời gian trong một trường thống nhất và mở ra một k nguyên mới để con người khám phá không gian và đặt định những lư thuyết về h́nh thành vũ trụ vô tận nhưng có những chiều kích và hạn độ minh bạch,
có thể tính toán được, có thể hiểu được bằng bộ óc của tiểu vũ trụ (microcosmos) là con người nhỏ nhoi nhưng có ư thức. Đó là phép lạ linh thiêng và huyền bí nhất, cũng là sự nhiệm màu tự nhiên, đời thường nhất.

Một trong những cảm thức nền tảng nhất của con người là cảm thức về thân phận của ḿnh mà vị sáng lập Phật giáo là Đức Thích ca đă tóm gọn trong chân lư thứ nhất (Đệ nhất Diệu đế) tức "Đời là bể khổ," với ṿng khung "sinh, lăo, bệnh, tử" (sinh ra, già nua, ốm đau, và chết đi).
Tuy nhiên, chính nhờ có đau khổ mới nảy sinh ư thức.
Lầm than và vinh quang chỉ là hai mặt không thể tách ĺa của kiếp người.
Có đau khổ mới biết thương yêu (từ bi) và mới có được nỗ lực giải thoát khỏi khổ đau (giác ngộ).
Từ bi được dịch sang tiếng Anh bằng từ "compassion" có nghĩa là "cùng đau khổ với." Giác ngộ được dịch là "enlightenment" có nghĩa là "đem vào sáng tỏ."
Ngày nay khoa nhân học và khảo cổ học thường nhận ra một cộng đồng sinh vật là thuộc cơi người hay c̣n ở cơi thú là nhờ dấu vết của việc thờ kính hoặc ma chay cho người chết; đánh mốc cho sự ư thức về cái chết và thời gian ngắn ngủi sống với nhau trên cơi đời, qua những nấm mộ từ thời tiền sử.
-Nấm mộ hoặc hài cốt dù được bảo tồn trong dạng nào cũng là những vật hữu h́nh, nhưng c̣n những t́nh tự, những ước mơ, những nguyện vọng th́ sao, ai nào thấy được.

Những cái đó chúng ta chỉ c̣n cách t́m hiểu một cách gián tiếp qua ngôn ngữ, văn bản, hoặc trong những tranh vẽ, tượng khắc bằng gỗ hay bằng đá, bằng kim loại.
Tranh khắc gỗ (mộc bản) truyền thống của dân tộc ở làng Đông Hồ (Bắc Ninh) hoặc ở phố Hàng Trống (Hà Nội) thường được sản xuất và bán trong dịp tết ở các chợ cho dân chúng mua về trang hoàng ngày xuân như để bộc lộ những ao ước, nguyện vọng mộc mạc suốt năm: mùa màng tốt tươi, đồng ruộng thảnh thơi, trâu no lợn mập, gà vịt béo tốt, gái trai đầy đủ, vinh hoa phú quư, sống lâu trăm tuổi.

Bên cạnh đó là sự ghi khắc những sinh hoạt vui chơi như ngồi trâu thổi sáo, hái dừa, đánh ghen; những thẩm mĩ nghệ thuật và văn học như tranh tố nữ, cầm ḱ thi họa, trúc cúc mai lan, tranh Kiều, tranh Lục Vân Tiên; những tranh danh nhân lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn...; và những tín ngưỡng dân gian như tranh ngũ hổ, tranh đạo nội Tam phủ, Tứ phủ, Bà Chúa Thượng ngàn, Bà Mẫu Thoải...v.v.
Một trong những bộ tranh thờ và được trí tuệ dân gian lưu giữ phổ biến nhất là bộ tranh Tam đa, tức bộ Phúc, Lộc, Thọ.
- Tam đa và Ngũ phúc là hai công thức quy kết ngắn gọn quan niệm b́nh dân về ước vọng hạnh phúc đời này.
Ngũ phúc (năm điều phước, tức tốt lành) là: phú (giàu), quư (sang), thọ (sống lâu), khang (mạnh khoẻ), và ninh (an toàn).
Trong Kinh thi tức Thi kinh là bộ sách do Khổng tử và các đệ tử san định, sưu tập và dẫn giải 305 bài gồm phong dao b́nh dân (phong) cũng như những ca từ của giới quư tộc (nhă và tụng) của các nước nhỏ từ 2500 năm trước ở Trung Quốc, th́ Ngũ phúc gồm: phú (giàu có); an ninh (yên lành); thọ (sống lâu); du hảo đức (có đức tốt); và khảo chung mệnh (vui, hết tuổi trời).
Tam đa (ba cái nhiều) là tài (tiền), lộc (ơn vua), và tử tôn (con cháu).
Một lối sắp xếp khác là tử (con trai), tài (tiền), và thọ (sống lâu).

Tuy nhiên cách gọi phổ biến nhất vẫn là: phúc hoặc phước (những sự tốt lành), lộc (ơn vua, ơn trời đất), và thọ (sống lâu).
Như thế chúng ta thấy rằng bộ Tam đa chỉ là sự rút gọn của bộ Ngũ phúc.
Hai thành tố bị giản lược là khang và ninh tức là sức khoẻ và an toàn có thể nhập vào với thành tố thọ v́ phải có sức khỏe th́ mới sống lâu được, và có lộc th́ sẽ có yên lành.
-Quan niệm Phúc (tốt lành) gần như lại mở rộng đến mức độc chiếm, đi tiên phong trước cả Lộc và Thọ, v́ tốt lành là phải có cả sang cả sống lâu.
Quan niệm Phúc cũng bị nḥe và đồng hóa với Phú (giàu có) v́ trong thời xưa phong kiến làm sao có thể giàu có nếu không được hưởng lộc thánh ơn vua và an toàn trong phép nước.
Phú và Tài cũng có thể thay thế cho nhau khi xă hội sử dụng đồng tiền trong trao đổi thay cho hiện vật.

Quan niệm Lộc chuyển hóa từ ơn mưa móc của trời đất tự nhiên, của thần thánh, sang triều đ́nh quân chủ, rồi trở thành lương bổng triều đ́nh, địa vị xă hội, giai cấp kinh tế.

Quan niệm Thọ có tính cách cá nhân cũng dần dà thay thế cho quan niệm về tử tôn tức là có con trai và cháu trai đích tôn nối dơi khi chế độ gia trưởng và đạo hiếu giảm bớt tính cách độc tôn chuyên trị.
Sống lâu là hưởng thụ tuổi trời trong đời ḿnh.
Có con trai và cháu đích tôn nối dơi là kéo dài thọ mạng của họ hàng, ḍng giống.
Theo sách Bách khoa thư Văn hóa Cổ điển Trung Quốc (2) th́: "Trong ba ngôi sao Phúc, Lộc Thọ th́ sao Thọ xuất hiện sớm nhất.
Đời cổ gọi sao này là Nam cực lăo nhân, cai quản vận nước dài hay ngắn, sau đó chuyển biến chuyên cai quản về tuổi thọ của loài người, nhờ vậy gọi là Thọ tinh (sao Thọ) và lập miếu thờ tự.
Sao Lộc là thần xuất hiện sau đời Đường Tống. Theo sách [Tân] Đường thư chép, thứ sử Dương Thành (ở Đạo châu) triều Đức tông nhờ trị dân có đạo đức, người ở đó lập đền thờ; đó là Phúc thần bản địa.
Đến đời Nguyên, Minh bị lầm là người Hán Vơ đế, phong tục tế lễ phổ biến khắp thiên hạ, sau đó coi như chuyên giữ về Lộc.
Tế lễ Phúc thần đă có nguồn gốc từ rất sớm trong dân gian, nhưng nhiều truyền thuyết khác nhau, có người mượn hoa văn chữ "Phúc" thành h́nh con dơi bằng cách hài âm tượng trưng cho cát tường.
Có người cho Chân Vơ đại đế là Phúc thần. Dân gian lại có thuyết "Thiên quan tứ phúc" (quan trời ban phước)
Nhân đó gần đây dần dần nhất trí coi "Thiên quan" là Phúc thần, cùng phối hợp với hai thần Lộc, Thọ. Đến đây h́nh tượng ba ngôi sao ba thần Phúc Lộc Thọ mới chính thức xác lập". (tr. 768).

Thọ tinh, đời cổ có hai nghĩa: một chữ tinh tú trên trời thuộc Nhị thập bát tú tức sao Giác và Cang ở phương Đông; một chỉ sao Nam cực lăo nhân ở Tây cung.
Nghĩa thứ nhất chỉ dùng trong thiên văn học, chẳng qua v́ đó là sao đứng đầu các sao nên có tên là Thọ.
C̣n đến đời Tần và sau đó dựng nên các miếu thờ Thọ tinh th́ đây là Nam cực lăo nhân.
H́nh tượng Thọ tinh được thờ gần đây đều có dáng một ông tóc trắng, chống cây trượng cong queo với trán cao đầu dài.
Thọ tinh bổn mệnh: bổn mệnh một người thuộc năm tháng ngày theo can chi 60 Giáp Tí. Người ta sùng bái tế lễ Thọ tinh trong ngày bổn mệnh ấy để cầu b́nh an. (tr.724).

'Tài thần: Thần chiêu tài tiến bảo [gọi tiền dâng của báu] được dân gian Trung quốc cung phụng.
Tục thờ thần tài là Triệu Công Minh, cũng gọi là Triệu nguyên soái, Triệu huyền đàn. Tương truyền là người Chung Nam Sơn, tu hành đắc đạo, có thể trừ tà khử bệnh, cầu tiền bạc trong buôn bán.
Dân gian cũng chia Văn Vơ tài thần: Vơ tài thần tức Triệu Công Minh, h́nh tượng đầu đội mũ sắt, một tay giơ roi sắt, một tay cầm ngọc quư, mặt đen râu rậm, cỡi trên cọp đen, mặc nhung y; Văn tài thần là Phạm Lăi thời Xuân thu – Chiến quốc.
Phạm giúp Câu Tiễn phá Ngô rồi cỡi thuyền nhẹ ra biển, đổi tên tuổi, buôn bán giàu có, hiệu là Đào Chu công [ông đồ gốm], người làm nghề buôn bán phần nhiều sùng bái ông.

Ngoài ra c̣n có nơi thờ Quan đế [Quan vũ, tức Quan Vân Trường] làm tài thần, lại có nơi thờ Ngũ lộ thần làm tài thần. (tr.764).
Theo tài liệu trong sách Dân gian thần tượng (3) th́ Phúc thần hay Phúc tinh là Tuế tinh (sao Thái tuế chủ về năm) trong 28 tinh ṭa, tức Mộc tinh, 12 năm quay hết một ṿng quanh mặt trời.
Nhân cách hóa sao này là thứ sử ở Đạo châu là Dương Thành xin vua tha thuế cho dân nên được gọi là Phúc thần của địa phương, sau lan ra toàn quốc.
C̣n Lộc thần là do Lộc tinh – căn cứ vào một trong 8 sách của bộ Sử kí do Tư Mă Thiên soạn cách đây 2000 năm là "Thiên quan thư" th́ Lộc tinh là v́ sao thứ 6 trong tinh toà Văn xương quan, chuyển quản về công danh lợi lộc.
Nhân cách hoá là Trương Viễn Tiêu là người sống đời Ngũ đại ở Mi sơn tỉnh Tứ Xuyên, tu tiên đắc đạo ở núi Thanh Thành trừ được tai họa cho dân.

Có thuyết khác lại cho rằng thần tượng "Trương tiên tống tử" là Hậu Thục Hoàng đế tên là Mạnh Sưởng bên cạnh tượng thờ có một em bé để ban con cho người cầu xin.

Nếu giàu có là giấc mơ của mọi người, nhất là nông dân, th́ quan lộc công danh là giấc mơ của toàn thể lớp người học tṛ sĩ tử, và sống lâu là hi vọng của toàn thể loài người.
Thọ thần hay Thọ tinh gốc từ hai cḥm sao Giác và Cang, xưa nhất trong hai 28 cḥm sao nên gọi là Thọ.
Người ta cho rằng Thọ tinh xuất hiện th́ thiên hạ thái b́nh, nếu không th́ có đao binh nên từ đời Chu, đời Tần nhà nước đều chủ tŕ điển lễ trọng đại tế tự, măi tới đời Minh mới không có quy định đó.
Thọ tinh nhân cách hoá là một ông già tức Nam cực tiên ông, mắt mi từ thiện, đầu hói và nhọn, râu dài, cầm gậy và trái đào.
Nói chung ước mơ của dân gian là từ ngàn xưa, sự nhân cách hoá và gán ghép cho các nhân vật lịch sử là về sau, với chủ ư kiểm soát của triều đ́nh phong kiến hoặc tô vẽ của giới văn nhân nho sĩ áp đặt lên dục vọng hồn nhiên của nhân dân.
Chúng ta không nên bị huyễn hoặc và lệ thuộc vào những thêu dệt xuyên tạc của đời sau.
Phúc Lộc Thọ là những nguyện vọng của người dân xuyên qua suốt lịch sử nên có giá trị của những biểu tượng (symbols) hoặc nói theo tâm lí chiều sâu của Carl Gustav Jung th́ đó là những sơ tượng, những nguyên mẫu (archetypes) của con người đại đồng ở muôn thuở muôn nơi. Qua quan niệm hoàng đế hay quân vương là người cai quản chư thần và có thể dùng bằng sắc để phong thần trong toàn quốc.

Các quan niệm này do đó bị lịch sử hóa và nhân cách hóa thành những nhà tu đạo giáo đắc đạo thành tiên hoặc những văn quan, vơ tướng chịu sự sai phái của thiên tử (con trời).
Cung điện trên trời của Ngọc hoàng Thượng đế và thập điện Diêm vương dưới địa phủ đều chỉ là phóng chiếu theo mô thức của triều đ́nh phong kiến mà thôi. Qua trên 2500 năm của lịch sử thành văn, những biểu tượng và nguyên mẫu ấy mang một lớp sơn phết của phong kiến nhưng cốt lơi vẫn là những khát vọng có thực và tha thiết của con người.
-Tính tượng trưng của các biểu tượng c̣n có thể thấy trong cách hài âm:
Phúc là điều lành, hài âm với phúc là bụng (to), với bức là con dơi.
Chữ Phúc c̣n được dán ngược tại cửa nhà để quan trên trời trông xuống thuận chiều mà ban bố.
Lộc là ân thánh của trời đất, triều đ́nh hài thanh với Lộc là hươu nai, hoặc Lộc là chồi non nên giao thừa và ngày tết dân chúng có tục lệ đi hái lộc tức cành cây non và đến đ́nh chùa miếu xin ban ơn.
Trong tục này ngày xưa đưa con người tiếp giáp với cây cỏ ngày xuân và là dịp cho trai gái hẹn ḥ gặp gỡ trong khung cảnh tự nhiên.
Tuy nhiên, ngày nay khi con người quá đông đúc và cây cỏ quá thiếu hụt th́ sự lạm dụng tục hái lộc đầu xuân có thể gây ra sự phá hoại môi sinh – lầm hiểu ư nghĩa tượng trưng của nó, không khéo trở thành giặc.
Tốt nhất nên chuyển thành tập tục trồng cây non trong dịp xuân, nhất là với giới trẻ thanh niên, học sinh.
Thọ là sống lâu nên h́nh ảnh vị tiên ông râu dài cầm trái đào có lông tơ và có khía tượng trưng cho cơ quan sinh dục của phái nữ cũng như đầu hói và cây gậy tượng trưng cho cơ quan sinh dục của phái nam.
Âm dương hài hoà là thọ mạng bền lâu.
C̣n Thần tài và Thổ địa cũng là những biến thiên và rút gọn nhất của tam tinh Phúc Lộc Thọ, vốn đă thường được kết hợp chung trong một bức tranh.
Tài thần gồm cả hai ban văn vơ nhưng khi hết thời của triều đ́nh phong kiến (Trung quốc sau Cách mạng Tân Hợi 1911 và Việt Nam sau biến cố thoái vị của vua Bảo Đại năm 1945) th́ Thần tài chủ yếu chỉ là một ông tiên hay ông quan tay cầm đồng tiền hay đĩnh bạc h́nh thoi như con thuyền ban xuống cho người cầu khấn.

Ước mơ rất hồn nhiên của người b́nh dân nước ta có gắn bó hiện thực với cuộc sống cụ thể hàng ngày của kiếp này, đời này.
Dân Việt Nam không mơ ước viển vông đến một cơi Thiên đàng, đến một đời sau không ai kiểm chứng được như trong những tôn giáo độc thần (Do thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo tức Islam).

Dân Việt căn bản không chấp nhận hi sinh hạnh phúc trong tầm tay để chết tuẫn đạo cho một cơi không tưởng hay dùng thuốc an thần bằng một lời hứa hẹn bất tử mơ hồ trong đời sau cơi chết.
Giấc mơ đó thể hiện rơ rệt trong mâm cúng ngày tết của người dân gồm trái na tức măng cầu (trong cách phát âm Nam bộ được đồng hóa với “măn cầu” tức thỏa đáp sự mong mỏi), trái dừa (phát âm đồng hóa với “vừa” đủ), trái đu đủ (tức đầy “đủ”), và trái xoài (đồng hóa với “xài” tức tiêu dùng).

Việc này cũng đồng nghĩa với lời cầu nguyện của Jesus: "Xin cho hàng ngày dùng đủ" trong Kinh Lạy cha; cũng như thành ngữ "Tri túc tiện túc" (biết đủ tức là đủ) của nhà Nho chấp nhận "An phận thủ thường" (yên với phần số, giữ cái thường hằng).
Không lạ ǵ khi ngân hàng tư nhân đầu tiên ở Sài G̣n (Tín Nghĩa ngân hàng) trước 1975 đă chọn ông thần tài làm biểu tượng và khu buôn bán sầm uất nhất của người Việt ở nước ngoài mang tên Sài G̣n Nhỏ (Little Saigon) ở tiểu bang California, Hoa K cũng mang tên và trưng bày cả tượng của ba v́ sao ước mơ: Phúc Lộc Thọ.

Nguyễn Tiến Văn

chú thích :

1) Thiều Chửu (1942), Hán Việt tự điển, Bản in lại của Nxb Văn hóa 1999, tr. 128. "Xưa đi nay lại gọi là vũ, như nói vũ trụ suốt gầm trời.
Vũ là nói về khoảng hư không (không gian); trụ là nói về khoảng th́ giờ (thời gian) nghĩa là không ǵ là không bao quát hết cả ở trong đó vậy"'.
(2) Nguyễn Tôn Nhan (biên soạn), 2002, tr.768.
(3) Tôn Kiến Quân (chủ biên), Dân gian thần tượng (2001), là sách chú giải các tranh và tượng thờ của dân gian Trung Quốc, Thiên Tân nhân dân xuất bản xă, Thiên Tân, Trung Quốc, tr. 100-117.
Reply With Quote
  #34  
Cũ 02-05-2013, 03:36 PM
Camly Camly is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 7,724
Thanks: 1,676
Được cảm ơn 1,569 lần trong 1,240 bài
Default Thư pháp & Ông đồ ngày tết

Reply With Quote
  #35  
Cũ 02-08-2013, 04:48 AM
Camly Camly is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 7,724
Thanks: 1,676
Được cảm ơn 1,569 lần trong 1,240 bài
Default

Ngày Tết Trong Tâm Thức Việt


Trong lễ hội dân gian, người Việt cổ xem trọng nhất là Tết. Tết là phong tục truyền thống của người Việt từ xa xưa cho đến ngày nay.

Dân gian vẫn thường phân biệt là Tết ta và Tết Tây chứ không ai nói là tết Tàu v́ chỉ dân tộc Việt Nam mới có chữ “TẾT” mà thôi, Hán ngữ không có chữ tết nên Tết là của Việt Nam chứ không phải của Tàu.
Thật vậy, trong Kinh Lễ viết Tế-Sạ # Tết mà Khổng Tử, người thầy muôn đời của người Trung Quốc đă giải thích với học tṛ:”Ta không biết Tết là ǵ, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là “Tế-Sạ“.
Điều này chứng tỏ rằng người Trung Quốc không có tết và Kinh Lễ là của người Việt cổ nên tên gọi tết cổ của người Thái là chi Âu Việt trong Bách Việt cũng gọi Tết là Thê-Sa.
Tết là ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền Đông Nam Á. Ngày nay, các công tŕnh nghiên cứu đă xác định cư dân Đông Nam Á cùng chung chỉ số sọ, cùng một mă di truyền DNA, nên là những chi tộc Việt trong Bách Việt.
Chính v́ vậy, tất cả đều ăn tết, chữ tết cùng một nguồn gốc với chữ Tết của Việt tộc. Đồng bào Nùng cũng đọc là tết (nèn tết=năm tết), đồng bào Mường cũng ăn “Thêt”= ăn tết như đồng bào Việt, đồng bào Thái th́ có lễ mừng năm mới gọi là Thêts.
Thêts khal là mùa tết, những ngày tết, khal text là ngày tết.
Đồng bào Chàm cũng có tết mà họ gọi là “Tít” vào lễ tháng năm của lịch Chàm cổ, “băng tít” là ăn tết, kTêh là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chàm. Người Mon cũng ăn tết mà họ gọi là Ktêk.
Người Khmer cũng có lễ hội “Chêtr” là Tết mừng tháng 5 theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm.
Ấn Độ cũng có chữ “Chetr” để chỉ tên tháng tư và tháng năm là 2 tháng giao mùa từ mùa nắng sang mùa mưa trong lịch Ấn Độ cổ.
Đặc biệt ở Népal cũng ăn tết trong “Lễ đầu năm” cổ truyền của người Népal và người Munda cũng có lễ ăn mừng mùa mưa đến gọi là “Teej”* như các quốc gia nông nghiệp trong Bách Việt
.



Về sau, trong văn học thường viết Tết gắn liền với chữ Nguyên Đán là Tết Nguyên Đán.
Truyền thuyết xa xưa kể lại rằng Đế Chuyên Húc, ông vua Việt cổ thời cổ đại gọi tháng giêng là NGUYÊN, gọi mồng một là ĐÁN rồi ghép lại là Nguyên Đán tức mồng một tháng giêng. Tầm nguyên ngữ nghĩa của hai chữ Nguyên Đán sẽ cho ta thấy rơ hơn ư nghĩa và tầm quan trọng của Tết Nguyên Đán.



Nguyên là mới bắt đầu, Đán là một chữ tượng h́nh, ở bên trên là chữ nhật chỉ mặt trời, bên dưới là chữ nhất thay cho mặt bằng phẳng khiến chúng ta liên tưởng mặt trời từ từ lên cao, tượng trưng cho một ngày mới bắt đầu. Nguyên Đán là ngày đầu năm đầu tháng giêng Âm lịch.

Do đó, Tết Nguyên Đán là ngày đầu tiên của tiết đầu của một năm mới.
Từ thời cổ đại cho tới Nhà Hạ vẫn lấy ngày mồng một tháng giêng là ngày Tết của người Việt cổ.
Nhà Hạ ăn tết nhằm cung dần, dựa theo nông lịch tức tiết đầu xuân lúc khởi đầu có sấm.

Khi tộc Thương (Hán tộc) đánh đuổi Nhà Hạ (Việt tộc) khỏi Hoa Bắc th́ Hán tộc chọn ngày 1 tháng 12 âm lịch là Tết Nguyên Đán, đến triều Chu chọn ngày 1 tháng 11 âm lịch, triều Tần chọn ngày 1 tháng 10 âm lịch cho cả Trung Quốc.
Măi đến thời Hán Vũ Đế chịu ảnh hưởng của văn hoá Bách Việt phương Nam nên chọn lại ngày 1 tháng giêng là Tết Nguyên Đán.
Ngày nay, Trung Quốc lại chọn ngày 1 tháng 1 Dương lịch tức Tết Dương lịch của Tây phương làm ngày Tết Nguyên Đán c̣n ngày 1 tháng giêng là Tết Xuân Tiết.
Duy chỉ có dân tộc Việt Nam trước sau như moat vẫn bảo lưu truyền thống “Nông lịch” của người Việt cổ lấy ngày mồng một tháng giêng Âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán c̣n gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Dương lịch 1 tháng 1 Dương lịch là Tết Tây.
Đối với người Việt, cái Tết có một ư nghĩa đặc biệt trong đời sống.
Thật vậy, ngoài cái giờ phút thiêng liêng chuyển đổi của đất trời qua “Giao thừa” sang năm mới, mọi người trong gia đ́nh mỗi người đều mang một tâm trạng riêng, nhớ tới những người thân đă khuất c̣n hiển hiện quanh đây, trong không khí ấm cúng của gia đ́nh đêm ba mươi tết

Trên bàn thờ với đĩa ngũ quả khói hương nghi ngút, đan quyện linh hồn những người đă khuất với kẻ c̣n sống đang tưởng nhớ tới họ.
Tết nhất cũng là dịp gia đ́nh đoàn tụ xum vầy, cháu con dù đi làm ăn xa đến đâu nếu có phương tiện vẫn trở về mái ấm gia đ́nh, để hàn huyên tâm sự chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống.
Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng chạp (tháng 12 ÂL), ai cũng nao nao trong ḷng về ngày Tết sắp đến.
Qua ngày hai mươi là Tết đến nơi rồi, không biết năm nay những người thân xa quê hương ai sẽ về đón Tết, ăn Tết với gia đ́nh?
Để chuẩn bị vui đón cái tết đúng ư nghĩa của nó, gia đ́nh nào cũng phải trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ Gia Tiên với đĩa “Ngũ quả” gồm 5 loại trái cây là trái sung, trái măng cầu, trái dừa, đu đủ, xoài nói lên ước vọng tâm tư dân dă miền Nam.

Cầu (măng cầu) trời khấn phật cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (Xoài).
Người Việt miền Bắc th́ trong đĩa ngũ quả phải có một chùm quả Sung ước mong sự sung túc cho gia đ́nh.
Mỗi năm hoa Đào nở,
lại thấy ông Đồ già ..
Nghiên mực tàu giấy đỏ,
bên phố đông người qua…

Ngày xưa dân gian thường nhờ ông Đồ viết đôi câu đối để chúc tụng, cầu mong tài lộc hạnh phúc theo ư của mỗi người: “Hoa tay thảo những nét, Như Phượng múa Rồng bay”.
Năm nay “Đào lại nở” nhưng ít thấy ông Đồ xưa nên chúng ta phải nhờ mấy “ông Thư pháp trẻ” viết vài chữ, vài câu gọi là mừng xuân.
Giới trẻ th́ trước tết đă rủ nhau đến hiệu sách chọn mua thiệp Xuân để gửi chúc tết đến gia đ́nh, bạn bè, đồng nghiệp với những lời chúc mừng nhân dịp Xuân về.
Ngày 23 tháng chạp là ngày ông Táo lên trời. Đêm giao thừa 30 tháng chạp, ông Táo lại trở về trần gian với gia đ́nh vào năm cùng tháng tận mang lại hy vọng cho gia chủ sang năm làm ăn may mắn phát tài phát lộc.
Vào dịp cuối năm, gia đ́nh nào cũng lo sơn quét nhà của đón Tết nhưng cũng không quên ra thăm viếng sửa sang sơn quét những ngôi mộ của người thân, đó chính là lúc tâm hồn người ta chùng xuống chạnh nhớ ông bà cha mẹ, nhớ những ngày tháng đă qua trong cuộc đời, trong tâm thức mỗi con người.

Lễ Tết c̣n thể hiện t́nh bà con nghĩa làng nước, gia đ́nh này bàn với gia đ́nh kia mổ chung một con heo, nấu chung nồi bánh chưng, bánh tét để được ngồi bên nhau canh nồi bánh kể chuyện râm ran cả một quá khứ tuổi thơ hiện về ngập tràn tâm tưởng.
Trước Tết nhà nào cũng lo đi sắm Tết, mua cho con trẻ bộ áo mới để mặc tết. Đúng giờ Giao thừa, gia đ́nh đứng trước bàn thờ gia tiên để khấn vái ông bà Tiên Tổ phù hộ cho mọi người.

Trong không khí trang trọng đặc biệt của ngày Tết, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, con cháu lần lượt chúc tuổi các bậc trưởng thượng ông bà cha mẹ được sống lâu trăm tuổi, rồi ông bà cha mẹ lại mừng tuổi cho con cháu mau khôn lớn, học hành thành đạt …

Sau đó, gia đ́nh anh chị em rủ nhau đến chùa lễ Phật hoặc đến nhà thờ nhưng không quên tập tục dân gian xưa là bẻ một cành cây có lá non gọi là “Hái lộc” mới đem về nhà cho sang năm gia đ́nh được nhiều may mắn, tài lộc.
Truyền thống dân gian Việt là “Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy” đă nói lên đạo hiếu của bổn phận làm con và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của người Việt.
Ngày mồng một tết, sau khi chúc tuổi thọ cha mẹ, dân gian c̣n phải đến chúc tết các bậc trưởng thượng trong ḍng họ rồi chúc tết bà con cô bác, hàng xóm láng giềng.

Đi đến đâu, vào nhà nào cũng được tiếp đón linh đ́nh nồng hậu hơn mọi ngày với nay đủ món ngon vật lạ ngày tết.
Ngoài ư nghĩa tâm linh của ngày tết, dân gian Việt thiên về cuộc sống t́nh cảm nên xem ngày tết như là một dịp để quên đi những vất vả gian truân của cuộc sống, quên đi những buồn phiền hiềm khích năm cũ đẻ vui vẻ đón tết, ăn tết.
Không một ai trong chúng ta lại không nhớ đến nỗi vui mừng khi nhận những bao tiền “Mừng Tuổi” “ĺ x́” màu đỏ rực thời c̣n nhỏ dại của người thân mừng tuổi cho những đồng tiền mới tinh.
Người Việt Nam chúng ta không ai có thể quên được không khí tưng bừng nao nức của ngày tết với câu đối đỏ, những bức tranh tết đỏ rực, những câu đối chúc tụng, những tràng pháo đỏ treo trên cây nêu hoặc trên cao để đúng giờ giao thừa nổ liên hồi để xua đuổi tà ma nên đêm ba mươi dân gian c̣n gọi là “đêm trừ tịch”.
Tiếng pháo nổ ḍn giă vang rền, có nơi c̣n múa lân để chúc mừng gia chủ khiến ḷng người ai ai cũng hoan mừng chờ đón giây phút thiêng liêng trọng đại đó để “Tống cựu nghinh tân”, đạp cái xấu xa xui xẻo năm cũ để đón mừng một năm mới tràn đầy hi vọng.
Làm sao có thể quên được những đôi môi mọng đỏ của các cô gái khi cắn hạt dưa.

Cái thú ngồi cắn hạt dưa đến rát cả lưỡi mà vẫn cắn không biết chán, những tiếng cười ṛn ră, những câu truyện râm ran suốt cả đêm. Tết nhất với đủ mọi món ăn nào là thịt mỡ dưa hành, gị chả rồi bánh chưng, bánh tét tha hồ mà ăn đến ngán ngẫm ê hề.
Nói đến Tết không ai không nhớ đến bài thơ Ông Đồ của Vũ Đ́nh Liên vào những ngày cuối năm với cái tết dân gian thấm đậm truyền thống Việt: “Nêu cao, pháo đỏ bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành …” của không khí ngày tết ở làng quê: “Đ́ đẹt ngoài sân tràng pháo chuột. Loẹt loè trên vách bức tranh gà ..!
Bên cạnh những tấm ḷng chân thật c̣n có những lời chúc chót lưỡi đầu môi của những phường giả dối nên thi sĩ Tú Xương đă mỉa mai cay đắng:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu

Mỗi lứa tuổi đón tết một cách khác, trẻ em th́ vui mừng mong đợi ngày tết với những ước mơ đơn giản đời thường với bao tiền ĺ x́ mừng tuổi, bộ quần áo mới và bánh thịt phủ phê năm ba ngày tết.
Tuổi thanh xuân th́ ngao du đây đó xa nhà, có người lo làm ăn sinh kế nên phải xa nhà tha hương nơi đất khách quê người, chợt một lúc nào đó cảm thấy hụt hẫng thiếu vắng một cái ǵ khiến tâm tư lắng đọng nhất là những chiều cuối năm nắng hanh vàng vọt bên thềm khiến ḷng ta xao xuyến:
Chiều cuối năm gợi nhớ,
Trở về mái nhà xưa …
Ngập tràn bao kỷ niệm,
Thương biết mấy cho vừa ..!

Chiều cuối năm gợi nhớ,
Một thoáng buồn xa đưa …
Những người thân thương cũ,
Chờ ai đón Giao thừa ..?!

Phạm Trần Anh
Thi sĩ Thế Lữ cũng đă trải qua những ngày tết xa nhà nơi gác trọ mới cảm thấy một nỗi buồn thấm thía:
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran …
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nh́n thiên hạ đón xuân sang …
Với tuổi già th́ những ngày cuối năm biết bao nhiêu buồn vui cuộc sống đủ để trầm ngâm về thế thái nhân t́nh, về cơi nhân sinh riêng ḿnh chứng nghiệm ..!
Nh́n bàn thờ khói hương nghi ngút, nhớ những người thân đă qua đời, những bạn bè không c̣n nữa, chậm răi vuốt cḥm râu bạc nhấp một hớp rượu rồi khề khà ngâm vịnh:
Nén hương khói toả thờ Tiên Tổ,
Chén rượu ngâm nga chúc bạn bè
Vào tuổi “Thất thập cổ lai hi”, với cái nh́n thấu suốt toàn diện cuộc đời sau bao năm thể nghiệm cuộc sống để cuối đời nhận chân được qui luật muôn đời của con tạo xoay vần, của sinh lăo bệnh tử nên b́nh thản chấp nhận tuổi già xồng xộc đến, chờ đón cái chết một cách ung dung tự tại như bài kệ “Cáo tật Thị chúng” của thiền sư Măn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai ..
Sự trục nhăn tiền quá,
Lăo ṭng đầu thượng lai ..
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai ..!

Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa tươi ..
Việc đời qua trước mắt,
Trên đầu già đến rồi …
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng măi,
Đêm qua sân trước một cành mai ..!


Phạm Trần Quốc Việt

Reply With Quote
Trả lời

Tools
Display Modes

Điều lệ Đăng Bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies are Mở
[IMG] code is Mở
HTML code is Tắt

Forum Jump


Tất cả thời gian được căn cứ theo giờ Quốc Tế GMT. Giờ địa phương của bạn là 09:21 PM.


Nội dung và bản quyền của những bài viết trên trang Web này thuộc về tác giả hoặc Cơ sở quảng cáo. TheGioiNguoiViet.Net không chịu trách nhiệm về nội dung của bài viết, của những bài góp ư và của những quảng cáo. Chúng tôi giành quyền loại bỏ những bài không phù hợp với chủ trương của Diễn Đàn.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.