TGNV TheGioiNguoiViet.Net

Diễn Đàn Tổng Hợp Thông Tin, Nghị Luận Thời Sự, Văn Học, Khoa Học, Tôn Giáo, Lịch Sử, Văn Nghệ Giải Trí

    Nhac Đấu Tranh   Nhac Quê Hương   Nhac Lính   Nhac T́nh   Nhac Ḥa Tấu    Cải Lương, Tân Cổ    Ngâm Thơ    Truyện   

                         

Trở lại   Diễn đàn Thế Giới Người Việt > 11. Câu Lạc Bộ Thân Hữu > Góc riêng của các thân hữu > Góc riêng của Việt Dương Nhân
T́m Kiếm Bài mới hôm nay Đánh dấu Diễn Đàn đă đọc

tgnv

Pḥng Games Online

Chuyện Phải Nói

Đề Tài Nổi Bật

Chuyện con số 3 và dự báo CSVN sẽ sụp đổ

Việt Nam sẽ thay đổi mầu cờ và chế độ vào năm 2014 do dân lật đổ

'Bố già' Kiên đă bị bắt

Dương Chí Dũng đă bị bắt

Trầm Bê xin được quản thúc

Chủ tịch Eximbank sắp bị bắt

Đ̣n phản công của 3 Dũng: Không nhả vị trí Trưởng Ban chống tham nhũng

Đánh án Kiên “bạc” chỉ là một phần của chuyên án chính trị bảo vệ chế độ

Âm mưu ám sát Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đang khẩn trương

Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu nhập cuộc. Chủ tịch Tập đoàn Masan bị bắt

Hồ Hùng Anh đă bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm

Tài Sản Khổng Lồ Của Cha Con Nguyễn Tấn Dũng

Ba Dũng đă chuyển 4 tỉ đô qua Đan Mạch

Từ bầu Kiên tới trùm Năm Cam

Thống đốc Nguyễn Văn B́nh?

Đảng CSVN thực chất đă tự tiêu vong

Đảng CSVN sắp tháo chạy...

Việt Nam tự ch́m dần trong quỹ đạo Trung Quốc 

Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Truyền H́nh Trung Quốc công khai kế hoạch đánh chiếm Việt Nam

H́nh Ảnh Quân Đội Trung Cộng tiến về biên giới Trung-Việt (8.2011)

Tại sao Trung Quốc vẫn nằng nặc đ̣i sát nhập VN vào lănh thổ của họ?

Thái Hà: Điểm khởi đầu sự sụp đổ Chế độ CSVN

Trung Quốc ăn thịt người dă man !

 

Pḥng Sinh Hoạt TGNV

Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)

 

Nơi phơi bày những cái rởm của CSVN: Bọn Quan trí thấp khoe thành tích, Một lũ luồn trôn hít với hà... (Chủ Quán: Doremi)

 

Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)

 

Nơi đây là chỗ kén chồng, Chàng nào đến Quán, nhớ gồng ḿnh nghen ! (Chủ Quán: Năm Trầu)

 

Nơi giới thiệu những bản nhạc hay và cũng là nơi bạn có thể yêu cầu những bản nhạc bạn muốn nghe (Chủ quán: Camly)

 

Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam

 

Nơi trao đổi những thông tin liên quan đến Thị trường Tài Chánh, Chứng Khoán, Vàng Bạc... tại Việt Nam và trên toàn Thế giới (Dr_Tran phụ trách)

 

Pḥng Audio TGNV

Nhac Đấu Tranh

Nhac Quê Hương  

Nhac Lính  

Nhac T́nh  

Nhac Ḥa Tấu   

Cải Lương, Tân Cổ 

Nghe Ngâm Thơ   

Nghe Truyện

Trả lời
 
Tools Display Modes
  #101  
Cũ 05-07-2012, 09:34 AM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Default Thụy Khuê : Paris, người Việt và tranh Lê Tài Điển

Thụy Khuê : Paris, người Việt và tranh Lê Tài Điển (Bài viết quá buồn !^_^! )


Thứ sáu 04 Tháng Năm 2012




Thụy Khuê RFI
Để t́m những kư hiệu ngôn ngữ gắn bó với con người, tôi thường h́nh dung những chữ phù hợp với phong cách nghệ thuật của một vài nghệ sĩ, ví dụ với Lê Thị Lựu là niềm âu yếm, dịu dàng; Vũ Cao Đàm là những mănh liệt thầm kín; tranh Nguyễn Trung chứa đựng khát vọng dục t́nh... nhưng chưa bao giờ nghĩ đến một kư hiệu cho tranh Lê Tài Điển bởi hội họa của ông với tôi là bí mật, dù đă quen nhau rất lâu và cùng sống trên đất Pháp. Có một chữ gần ông nhất là ít : nói ít, viết ít, vẽ ít...


Ở người hoạ sĩ vẽ ít ấy, tranh Lê Tài Điển chia làm hai vùng :
Một vùng dễ hiểu chứa đựng những màu sắc, đường nét tươi sáng, rất trừu tượng, trẻ trung, mạnh bạo, dứt khoát vươn lên như muốn phá vỡ bức thành cổ của phục hưng hay ấn tượng, để xây dựng họa h́nh mới, tác phẩm mở, vào muôn vàn ngơ rẽ khác biệt.

Những bức tranh trong sáng của ông c̣n rọi về tuổi trẻ của chúng tôi, lớp người sang Pháp thập niên 60-70, xuất dương du học hay tập nghề, một niềm tin vào "tương lai xán lạn".


Mầu xanh lơ trên bầu trời không gợn mây hay những mảnh lam biếc đầy hấp lực, biểu dương lư tưởng tự do, mà chúng tôi vừa tập tễnh tiếp xúc trên đường tha hương sách vở. Cái mầu xanh ấy, màu xanh mà ngày nay, bất cứ chính trị gia nào cũng dành làm "nền" cho các bài diễn văn của ḿnh, thời ấy c̣n là hiếm. Những vạch sơn vững chăi đầy nam tính trên tranh ông, là sự tự tin, đôi khi thái quá, và cũng là niềm kiêu hănh của một tuổi trẻ muốn chinh phục thế giới bên ngoài.


Đó là phần lạc quan, dễ hiểu, trong tranh Lê Tài Điển, phần họa h́nh ánh sáng.


Nhưng Lê Tài Điển c̣n một vùng tối. Phần sâu kín, âm u, bi quan, và bí mật.


Nụ cười xé hai của ông luôn luôn gợi cảm giác đớn đau, một thứ phũ phàng của định mệnh, một khối u trong tâm hồn, một bệnh chứng di căn không có cách ǵ lành trong con người. Người Việt.


Ông không dùng kư hiệu ngôn ngữ b́nh thường để giao tiếp. Tất cả dường như đă cất kỹ vào kho, khuất trong nội tạng, thỉnh thoảng hé ra một chút, loé lên trong ánh mắt, phẫn nộ như một tia lửa, bùng lên rồi biến mất, để lại cho người nhận chút hoài băo, sững sờ, tê dại.


Ở Lê Tài Điển là sự truyền chân cảm, rất ít, rất nhanh và thật vội, như sợ người ta biết được, nhận được và hiểu được bí mật của ḿnh.


Bí mật ấy là một vũ trụ u ám, phải chú ư lắm mới có thể bắt gặp.


Trong một buổi triển lăm tranh ông tại Paris, đă khá lâu, tôi không c̣n nhớ rơ ngày tháng. Kỷ niệm mạnh nhất để lại cho người xem là những gam màu tối, vô thể, vô h́nh, chứa đựng những khối u, tan nát, vỡ vụn.


Dường như ông muốn vẽ cái đau đớn, cô độc của chính ḿnh trong cuộc đời nghệ sĩ những đêm say lạc ngủ quên trên con tàu từ Paris ra ngoại ô, đến cuối đường lại quay trở lại.


Thân xác đi, ở, nhập, vào toa tầu những đêm đông lạnh và buồn ấy, đến sáng.


C̣n tranh đă nhúng hồn và máu trong những con tầu say.


Tranh ông thể hiện con đường rầy ngoại ô Paris-Sartrouville, lạnh lội những đêm đông mưa dầm giá buốt, những căn nhà xiêu vẹo cạnh đường rầy đuổi nhau trên khung kính toa tầu, những mảnh đời nhờ nhờ đen như mầu da những người sống bên cạnh lộ.


Tranh ông ngoặc những nét sần sùi thô nhám trên những khung cửa lơm vào ḿnh immeuble HLM (Habitation à loyer modéré - nhà cho thuê rẻ tiền) tối om và ẩm ướt, những gờ thang máy bẩn thỉu hỏng quanh năm, những cửa kính vỡ, toác hoác đón gió lùa, những bức tường bôi bác vết nhơ, những đứa trẻ bơ vơ, lạc, loạn trong x́ ke ma tuư...


Tranh ông thể hiện chái sau những quán ăn Tàu, Việt, Paris khu mười ba, mười tám, những xưởng may quần áo lậu, hậu trường thiếu vệ sinh, thuê người trái phép, bóc lột nhân công, cả một hệ thống bí mật giấu trong những gói rác, đổ vội trong đêm khuya sau khi thực khách cuối cùng rời tiệm.


Tranh ông phản ảnh niềm tuyệt vọng ẩn trong những giấc mơ của người dân nhược tiểu, hăm hở đến kinh đô ánh sáng để t́m "tương lai tươi sáng", lại chỉ gặp được định mệnh đắng cay, tàn khốc.


Tranh ông thể hiện niềm tuyệt vọng chung của người nhập cư từ những nước nghèo t́m đến Paris, mong hưởng chút bơ thừa, sữa cặn, của một xă hội thừa ánh sáng, thiếu nhân t́nh.


Và cũng từ Paris, nẩy sinh niềm tuyệt vọng riêng của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, sự lưu lạc của một kẻ sống dưới ánh sáng, mà vẫn tưởng ḿnh là bóng tối.


Ông vẽ những thất lạc của con người trong đêm, như con tàu, cứ lao đi, đi măi, mà không biết dừng lại ở một chốn nào...


Sự lưu lạc của ông cũng là sự lưu lạc của chúng tôi, hậu duệ của bọn người
đầu thai nhầm thế kỷ. Paris, dĩ nhiên huy hoàng và mỹ lệ, dưới vạn ánh đèn. Nhưng có mấy ai biết Paris c̣n là một vũ trụ đen sâu đầy cạm bẫy của bóng đêm và bất hạnh, của những thất bại không ngừng, của những thờ ơ và lănh đạm, của những kỳ thị hoang vu, của những chuyện chẳng lành đến từ quê cũ, của những hổ thẹn của một dân tộc đội sổ về quyền làm người...

Paris càng sáng càng vui càng tự do bao nhiêu, th́
lũ đầu thai nhầm thế kỷ chúng tôi càng cảm thấy lạc loài sinh nhầm tổ quốc, có lúc tự nhủ giá ḿnh là người Lào, người Thái...

Tranh Lê Tài Điển nói lên được cái "trót lỡ" ấy, cái trót lỡ đầu thai nhầm thế kỷ ấy, mà chúng tôi phải gánh như cây thánh giá trên ḿnh, đeo nó bước đi trong kinh thành ánh sáng, nơi mọi người hoan hỷ, chỉ riêng bọn chúng tôi héo hắt với thập tự trong tim, bởi bao nhiêu "thành công" nghề nghiệp cũng không xoá được nỗi bất lực toàn diện, bó tay, không thể rút độc tài ra khỏi guồng máy thống trị, rút tham nhũng ra khỏi dân ḿnh, rút bất công ra khỏi số phận những đứa trẻ bụi đời trên khắp nẻo Sài G̣n Hà Nội, rút ê chề khỏi thân thể những cô gái bán ḿnh sang Hồng Kông, Hàn Quốc...


Sống trên đất Pháp từ lâu, quá lâu, gần ba phần tư cuộc đời, đă là một nửa người Pháp, đă có thể trở thành người Pháp, nhưng tại sao nửa kia vẫn muốn, vẫn nhận, vẫn là
người ḿnh, mặc dầu khó ai biết rơ ḿnh là ai, là người ǵ, ngoài tấm thẻ căn cước và tờ hộ tịch. Người ta bảo đó là người Pháp gốc Việt, người Mỹ gốc Việt, nhưng có ai rơ người là ǵ và gốc là ǵ? Điểm rơ nhất là sự xuất huyết nội tâm cả người lẫn gốc mỗi khi được tin về nước ḿnh, từ thuở thuyền nhân vượt biển.

Ở những thuyền nhân sống sót đến Paris, lại một kỳ vọng mới cho tương lai. Bao nhiêu thế hệ đă qua, đến Pháp, hết lớp này lớp khác, mỗi lần đều mang một khát vọng mới: và nếu ai đó có thành công về kinh tế xă hội, cũng không khoả lấp được niềm tuyệt vọng của một dân tộc.


Một dân tộc không thiếu nhân tài, có nền văn hoá lâu đời, nhưng bao nhiêu thập niên đă trôi qua, không thể ngóc ḿnh lên khỏi nấc thang chót về quyền làm người, cũng là nấc thang xác định nền văn minh của một nước. Đó là một cái nhục mà chúng tôi phải chịu, và chúng tôi có trách nhiệm.


Cái nhục ấy, chúng tôi,
những kẻ đầu thai nhầm thế kỷ phải chịu trách nhiệm và mang trong người như một ung nhọt nội tâm, chưa có thuốc chữa và cũng không thể ngỏ cùng ai. Mà nói thế nào? Ngoài niềm tuyệt vọng dấu kín trong ḷng, rồi một phút nào đó, bí mật trào qua nét bút.

Tranh Lê Tài Điển mang những nét bí mật như thế.


Một họa sĩ bảo:
"Có những khuôn mặt dễ bắt, có những khuôn mặt khó bắt". Chữ bắt của ông thật tài t́nh, mà không chỉ với tranh, dường như với bất cứ loại h́nh nghệ thuật nào cũng vậy, đều có những đối tượng khó bắt và những đối tượng dễ bắt.

Lê Tài Điển là một khuôn mặt khó bắt. Khuôn mặt ở đây cũng là toàn bộ con người và nghệ thuật. Nh́n một bức tranh "tươi" của ông, với màu xanh hy vọng, sắc thắm, nhiều ánh sáng, đường nét dứt khoát không lưỡng lự, các gam màu ăn khớp trong mật độ hài hoà, vẫn thấy như có cái ǵ không ổn, "không đúng", chưa phải ông, chưa phải chúng tôi, không phải.


Trong tim của mắt, có sự từ chối những ǵ quá sáng, quá vui, nơi Lê Tài Điển. Ngược lại, chỉ khi nh́n những nét vá víu, ngượng nghịu, như quẹt vội, như bút ráp, những nét âm u, vô h́nh thức, chưa phải là h́nh, một thứ ánh sáng chưa thoát khỏi bóng đêm, một tương lai chưa đến đă vỡ, một kết hợp chưa thành đă vữa, đó mới thực là Lê Tài Điển.


Bởi tranh ông cũng là hiện thân cái mâu thuẫn, cái đen tối trong tâm hồn chúng tôi, những người Việt sống ở chốn này: ánh mắt nào cũng muốn lừ lên một chút phẫn nộ, uất ức cái ǵ đó, rồi lại dịu xuống chịu đựng, đợi chờ. Ai cũng muốn làm một cái ǵ đó cho đất nước, nhưng rồi vẫn ngồi trơ đó, bó tay, hoặc hồ hởi đi về, ngậm ân huệ mà nuốt trôi nhân cách.


Lê Tài Điển vẽ được cái băi rác ấy trong tim chúng tôi. Vẽ được cái vùng phân tranh, bất phân thắng bại, nhưng không ai nhường ai, trong thâm tâm người Việt, đă có hoà b́nh gần một phần ba thế kỷ. Ông vẽ những đen tối cạnh tranh, của một cộng đồng chưa từng hội ngộ, chưa từng đoàn kết, nhưng đă lên ngôi những nghi ngờ, những đố kỵ, những đổ vỡ, những tàn tạ.


Paris, những ngày tuyết tháng 2/2012

Thụy Khuê


RFI



__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
  #102  
Cũ 05-12-2012, 12:11 PM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Default Thụy Khuê : Paris, người Việt và tranh Lê Tài Điển

Máy PC vdn xem h́nh EI - không xem được dạng FF?
***
+ vài h́nh ảnh lưu niệm với
Họa Sĩ Lê Tài Điển


(photo 18.3.2006 - Văn Nghệ Sĩ & Quốc Hương_vdn (Paris) - 3/18/2006 4:23:20 AM )
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=151649&mpage=40
Họa Sĩ Lê Tài Điển (Paris) - Người Họa Sĩ có tâm hồn thật Nghệ Sĩ...





QH_vdn & Hoạ Sĩ Lê Tài Điển


Họa Sĩ Lê Tài Điển - Nguyên LS Nguyễn Văn Minh - Nguyên KS Huỳnh Quan Sửu - Thi Sĩ Trần Khánh Phước


Những khuôn mặt quen thuộc đến với nhà hàng "Au Vieux SaiGon" tại khu Á Châu Paris 13





Từ trái đánh ṿng sang phải
Họa Sĩ Lê Tài Điển - LS Nguyễn Văn Minh - Nhà báo Phạm Xuân Mai - Trần Khánh Phước - Huỳnh Thuận Khải_Khải Dù (nguyên cựu SQQLVNCH)

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
  #103  
Cũ 05-19-2012, 09:24 AM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Default Nhà thơ Hàn Mặc Tử *** Tạ Ơn Người Vẫn Thương Người

Nhà thơ Hàn Mặc Tử *** Tạ Ơn Người Vẫn Thương Người



Tạ Ơn Người Vẫn Thương Người
http://caulacbotinhnghesi.net/index.php?option=com_content&view=article&id=1028


TẤT CẢ CHO NGƯỜI
PHONG CÙITRẦN HOÀNG NAM
Có một lúc nào chúng ta lắng đọng tâm hồn nghĩ đến số phận của những nạn nhân phong cùi hay chăng ? Điều chắc chắn không ai muốn căn bệnh quái ác đó đến với chúng ta hay thân nhân ta. Trăm lần không vạn lần không. Khi tôi viết về nhà thơ nổi danh trong văn học Việt Nam là Hàn Mặc Tử, những nỗi mặc cảm của ông khi bị người t́nh Mộng Cầm phụ rẩy phủ phàng, thơ cho nỗi ḷng dâng trào sầu khổ khi người yêu bỏ đi lấy chồng, Hàn Mặc Tử qua thơ được tin Mộng Cầm đi lấy chồng:

"Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ
Tôi sẽ đi t́m mỏm đá trắng
Ngồi lên để thả cái hồn thơ."
(bài "Lấy Chồng")

T́nh đắng cay, đau thương được diễn tả qua bài thơ trăng thật éo le, trắc trở dưới đây của Hàn thi nhân:

"Hôm nay có một nửa trăng thôi,
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi !
Ta nhớ ḿnh xa thương đứt ruột!
Gió làm nên tội buổi chia phôi !"
(bài "Một Nửa Trăng")


Trong nỗi mặc cảm, buồn tủi v́ căn bệnh quái ác dằn vật tâm hồn và hủy hoại thể xác trở nên xấu xí, rồi như Cao xanh thấu hiểu nỗi ḷng Hàn thi sĩ nên cho ông một người bạn gái khác, Mai Đ́nh đáng thương, một thiếu nữ trẻ đẹp đă cải lời mẹ cha dâng hiến t́nh yêu cho Hàn thi sĩ, dù là bị gia đ́nh trừng phạt đánh đ̣n ngăn cấm, rồi t́nh thương không ngăn cản được con tim của người thiếu nữ, nhưng biết thân phận ḿnh Hàn thi sĩ đă không lạm dụng t́nh yêu ấy, hăy nghe những lời yêu thương của người t́nh thủy chung Mai Đ́nh:

"Em đă yêu anh đến dại người
Ḷng em ngày tháng dễ nào nguôi
Yêu anh trên hết t́nh yêu mến
Và sẽ yêu anh suốt một đời"

Nàng không hề gớm ghiết chứng bệnh nan y của chàng, mà con t́nh nguyện chăm sóc người yêu. Tôi thật sự xúc động cái tâm t́nh nhân loại, người đối người như vậy:

"Yêu anh trong lúc anh lâm chung
Mới thấy t́nh em yêu lạ lùng
Rải khắp bầu trời kia chưa lấp
Mong anh lành mạnh mới đáng công"

Nàng sẵn ḷng dâng trọn thân xác và tâm hồn của ḿnh cho người yêu đáng tội nghiệp thay:

"Anh lành, anh sẽ tặng em chi
Tặng cả đời anh, cả hồn thi
Với cả những ǵ anh ước vọng
Cả hồn, cả xác, cả t́nh si"

Mai Đ́nh và Hàn Mặc Tử

Đó là một t́nh thương hay t́nh yêu cho người lỡ vướng mắc bệnh phong cùi. Tôi phải nhập đề bằng câu chuyện văn học vô cùng thương tâm đó để nêu lên cái ư niệm ở đời, nếu trên quả địa cầu này có những khổ đau th́ cũng có những bàn tay nhân hậu, những tấm ḷng vị tha sẵn ḷng đến với cái xui xẻo, cái đau khổ để san sẻ và để xoa dịu phần nào những nạn nhân, những linh hồn sống vất vưỡn nhờ vào ḷng từ tâm, thương hại bố thí của người khác.

Vâng, thưa đó là hai yếu tố tương quan trong cuộc sống này: Người Cùi và Bạn Người Cùi. Tôi có người bạn, anh Nguyễn Mạnh Hùng giới thiệu tôi với Hội Bạn Người Cùi. Xin hăy mở ḷng đối với những ai kém may mắn cho cuộc sống có ư nghĩa hơn.

Con bệnh nhân phong cùi
tốt nghiệp y khoa BS
(BS Mạc Văn Ḥa)

Ôn chút lịch sử:

Bệnh cùi hay phong cùi có lịch sử từ lâu đời rồi. Người đầu tiên khám phá ra vi khuẩn cùi dưới ống kính hiển vi là Bác Sĩ Armauer Hansen, người Na-Uy, năm 1873. Từ ngày vi trùng cùi được t́m ra, xă hội con người đă thay đổi rất nhiều trong việc chữa trị và đối xử với người phong cùi. Bệnh cùi đă tác hại và gây ra khổ đau cho rất nhiều người, đặc biệt các vùng trong miền nhiệt đới. Trong những thập niên của thế kỷ 20 vừa qua người ta đă dùng đậu Chaulmoogra để trị bệnh cùi, nhưng cách trị bệnh đau đớn này chỉ có hiệu quả cho một số ít người, và không có hiệu quả lâu dài.
Rồi nước Mỹ năm 1941 lần đầu tiên trong công tác chế ngự bệnh cùi, nên đă dùng thuốc Promin được bác sĩ Guy Faget tiêm cho bệnh nhân cư ngự trong trại cùi Carville thuộc tiểu bang Louisiana, dù thành công trong thuở phôi thai của quyết tâm pḥng ngừa và chữa tri bệnh cùi, nhưng phương pháp này cũng rất đau đớn, hành xác bệnh nhân v́ phải tiêm đi tiêm lại nhiều lần.

Đến thập niên 1950 bác sĩ R. G. Cochrane chế ra thuốc Dapsone nhưng khi tiêm riết rồi vi trùng cùi quen thuốc, lại lờn thuốc. Đợi đến 2 thập niên sau, nền y khoa con người t́m ra được linh dược, niềm hy vọng ức chế bệnh cùi. Thuốc được thử nghiệm trên đảo Malta trong thập niên 1970 đă đem lại nhiều kết quả hữu hiệu. Liều thuốc này là một hỗn hợp thuốc (gọi là MDT) gồm có ba loại thuốc Dapsone, Rifampicin và Clofazimine. Bệnh nhân phải dùng liều thuốc này từ sáu tháng đến một năm hay là phải lâu hơn nữa mới khỏi dứt bệnh.

Bệnh cùi có lây không ?

Thưa rằng có chứ, bệnh cùi lây trong trường hợp sống chung đụng, va chạm thiếu cẩn thận trong một thời gian dài với người đang mang bệnh. Nhưng thông thường th́ 95% người có sức khoẻ b́nh thường có sức đề kháng mạnh chống lại vi trùng cùi hữu hiệu. Họ không bị lây ngay cả đến việc giao tiếp hằng ngày với bệnh nhân.

Khi người bệnh uống thuốc vào th́ hầu hết các vi trùng trong người bị chết ngay trong vài ngày đầu, và sau hai tuần, thường th́ người cùi không c̣n lây nữa. Để diệt trừ bệnh phong cùi, ngày nay bệnh nhân không cần thiết phải bị cô lập, tách riêng họ ra một nơi, ra khỏi xă hội, khỏi làng xóm, khỏi những người thân trong gia đ́nh. Tội nghiệp cho họ lắm.

Nên nhớ bệnh cùi không lây qua sự giao hợp giữa vợ chồng hay di truyền cho con cái qua việc sinh sản. Những người cùng chung trong một gia đ́nh với người bệnh không cần thiết phải uống thuốc trị bệnh phong cùi, nhưng nên đi khám và theo sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Vấn đề lương tâm con người về vấn nạn người cùi, hăy xem họ là những con người bất hạnh, cần được giúp đỡ. Những đắng cay và buồn tủi của những người mang bệnh phong cùi là một sự thật trong thế giới hiện tại ngày nay khi mà y khoa thế giới tiến xa vượt bực so với thế kỷ 19 hay đầu bán thế kỷ 20, rất nhiều người thường không mắc bệnh hay bệnh nhân đă không biết đến bệnh cùi có thể được ức chế qua thuốc. Mặc dầu không c̣n là một chứng bệnh nan y bất trị như xưa, nhưng bệnh phong cùi vẫn là nỗi bất hạnh, đau thương và xót xa cho rất nhiều người ở quê nhà. Một xă hội văn minh nhân bản khác với xă hội mà sự thiếu thốn do nhân tai gây ra. Nỗi buồn là bệnh nhân thiếu thốn về mọi phương diện: nhà cửa, thực phẩm, thuốc men và điều kiện vệ sinh tối thiểu để được điều trị lành bệnh.

Một xă hội khi mà con số đông người đă bị khuyết tật nặng, chân tay đă bị tàn phế, mất hết cảm giác và không c̣n khả năng để tự chăm sóc lấy bản thân nói chi phải tự túc t́m mưu kế sinh sống. Họ không ngừng vật lộn với những khó khăn thường nhật và những mặc cảm do xă hội gây ra. Nỗi khổ đau của người cùi không phải chỉ là sự tàn tật trên cơ thể mà bệnh nhân mang, nhưng là sự ruồng bỏ của xă hội và thiếu vắng t́nh thương nhân loại. Số người giúp họ quá ít ỏi, c̣n nhà cầm quyền hầu như giao phó cho bên dân sự tự lo do ḷng trắc ẩn. Có những bệnh nhân tự lánh xa chốn đông người, sống ẩn dật, t́m vào trong những hang cùng ngơ hẹp để an phận, quằn quại đớn đau dưới sự tàn khốc của chứng bệnh, của thời tiết, của những thiếu thốn và sự lạnh lùng của xă hội.

Con bệnh nhân phong cùi
tốt nghiệp y khoa BS
Theo Hội Bạn Người Cùi (HBNC), một tổ chức vô vị lợi ở California mà một nhóm anh chị em thiện nguyện đă xả thân làm công quả, tổ chức được thành lập vào năm 1995, Hội đang dang tay giúp đỡ khoảng ba mươi trại cùi lớn nhỏ từ miền Nam ra tới miền Bắc 17 năm nay, số bệnh nhân phong cùi ở Việt Nam hiện được ước đoán c̣n độ trên dưới ba hay bốn ngàn người mà thôi.


Tôi được biết tôn chỉ của Hội Bạn Người Cùi là "Tất Cả Cho Người Phong Cùi", do một nhóm anh chị em trẻ thiện chí trong cộng đoàn Tustin, tại miền Nam California, Hoa Kỳ, phát khởi năm 1995. Hiện nay ban điều hành của Hội Bạn Người Cùi gồm có các vị sau đây:

Cha Linh Hướng :
Trịnh Đức Ḥa
(214) 384-4528
Hội Trưởng:
Anh Nguyễn Văn Công
(714) 785 - 7950
Phụ Tá:
Chị Nguyễn Thị Soi
(714) 732-8162
Phó Nội:
Chị Nguyễn Anna Phụng
(714) 622-8734
Phó Ngoại:
Anh Lê Văn Quang
Thủ Quỹ:
Chị Bùi Kim Loan
(714) 260-3007

Con bệnh nhân phong cùi tủi thân

Tôi mong sao trên quả địa cầu này bệnh phong cùi sẽ bị tận diệt, không c̣n là cơn ác mộng, nỗi kinh hoàng v́ sự ghê gớm mà nhân loại xa lánh. Hăy cầu mong sao cho một thế giới không c̣n bệnh phong cùi nữa vậy.

Theo links:

http://leprosypbio.blogspot.com/2011...y-leprosy.html

http://www.stanford.edu/class/humbio103/
ParaSites2005/Leprosy/history.htm

http://www.nguoicui.org/hbnc/thongtin/bs_hoa.shtml

http://chimvie3.free.fr/19/vhal050.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Leprosy

http://www.answers.com/topic/leprosy



Trần Hoàng Nam


On Sat, 5/12/12, www.ninh-hoa.com <ninhhoaviewers@yahoo.com> wrote:

From: www.ninh-hoa.com <ninhhoaviewers@yahoo.com>
Subject: THONG BAO BAI VO HANG TUAN (11/05/2012 - 18/05/2012)
To: "Ninh-Hoa DocGia" <ninh-hoa_viewers@yahoogroups.com>
Date: Saturday, May 12, 2012, 7:38 AM

THONG BAO:

De Ky Niem Muoi Nam (10 Nam) Thanh Lap Trang Mang Ninh-Hoa, Chung Toi Se Phat Hanh Quyen DAC SAN SO 4 Voi Chu De QUE HUONG, TINH YEU, Va KY NIEM. Mong Don Nhan Bai Vo Cua Quy Dong Huong Va Than Huu Gui Ve:

diem27thuy@yahoo.com

Truoc Ngay 31 Thang 7 Nam 2012. Thanh That Cam On Quy Vi.

www.ninh-hoa.com

Tran trong thong bao :

Bai moi/nguoi moi trong tuan 11/05/2012 - 18/05/2012 nhu sau:

1/Kinh Te HOA KY:
Nguyen Van Thanh – Nen Kinh Te Hoa Ky – Ky 148:

Tai sao lenh cam 1 con cua chinh phu Trung Quoc cang ngay cang kho kiem soat ?......>>>

Ly do nao dua cac nha tu ban Nhat Bon bat dau dau tu tai Viet Nam cang ngay cang gia tang ?.....>>>

Trong khi do Nhat Bon bot xu dung cong nhan tai Trung Quoc, vi sao?.....>>>>

Nen kinh te Viet Nam neu khong kiem soat duoc lam phat duoi 10% va lai suat duoi 10% thi nen kinh te....>>>

Lan dau tien My Quoc da xuat cang mot so dau xang, cung nhu dau Diesel, dau chay phi co, hien nay moi ngay nuoc My xuat cang tren 1 trieu thung dau xang va dau Diesel (dau can) sang cac vung Nam My, Me Tay Co,v..v.....>>>

Viec xay dung cac ong dan dau se giup cho ky nghe san xuat dau xang va dau Diesel phuc vu xuat cang. Tuy nhien da bi Tong thong Obama bac bo nhieu lan trong viec lap ong dan dau Keystone tu Gia Na Dai ve toi Texas....>>>

Vi sao dan chung My bot ung ho Tong thong Obama trong viec tranh cu Tong thong Obama vao thang 11 nam 2012.?


2/Thanh Hien Thi Tap:
Duong Anh Son – THANH HIEN THI TAP – Bai 65: NGAU HUNG (Bai 2) 偶興 (二) & BAI 66: THANH MINH NGAU HUNG 清明偶興
3/Nhom D-BB D.H.K.H:
Ks Vu Tien Phai Va Nhom Giao su – THANH PHONG THI TAP - Bai So 115: Nguyen Du –VINH CHAU LIEU TU HAU CO TRANH 楚望 - 阮攸
Gs Dam Quang Hung – LIEU TRAI CHI DI – Doan 098– HUONG CAO – Hoa Ho Bao Thu Anh
Gs Nguyen Van Phu – QUYEN 2 - Bai 41– HOI CHUA CON SON
Gs Nguyen Huu Quang - HAN VIET DICH SU LUOC: CHUONG 10 – Thai Huyen Kinh 太 玄 經 – Bai So 121
Gs Tran Cao Tan - Con Duong Chung Ngo – Ky 43: LUAN VE PHAP HOA

Gs Le Phung - HO XUAN HUONG : Tieng Noi Dai Chung (Quyen 2) – Ky 36

4/Sinh Hoat Dong Huong NH-DM Va Than Huu :
Hoang Lan – Nhung Ngay Vui O Minnesota – Phan 4
Vinh Ho – Ky 18B (tiep theo Ky 18): Tan Man Ve Tieu Goi Ngo Tai Tu Gia VINH HO
Nguyen Xu Van – Tan Man Chuyen Vien Du Nhan Dai Hoi Dong Huong Ninh Hoa – Duc My Tai Orlando (11/6/2011) – Ky 22: Buoi Trua Toi Bien Daytona
Song Ho (Ho Tan Phuoc) – Thu Goi Nguoi Xu Van

5/Tho Phiem/Tho Vui:
Tu Trinh – Con Gai Sa Mac

6/Slide Shows/YouTubes :
Mai Huu Tho & Pham Thuc Tam – (1) Bien-Toi Va Nhung Canh Chim Hai Au – Tieng Ngam: Thi Thao (2) Do Chieu – Tieng hat: Tam Doan

7/Ca Hat :
Ly Ho – Lam Sao Quen

8/Trung Học Tran Binh Trong – Ninh Hoa:
Dac San Mua HA 1973 – THEM VAN
Phan Thi Anh – Mot Hoai Niem

9/Trung Học Van Ninh:
Co Dang Tuyet Nhu – Doi Lam Tho – Phan 3:

10/Trung Học Vo Tanh/Nu Trung Hoc:
Co Kim Thanh – Tho: ME Oi Con Nho ME – Cien Ngam: Hong Van

11/Van Hoc Nghe Thuat:
Gioi Thieu Ngươi Mơi:

Bs Le Anh – MOT CHANG DUONG SAP DEN – Duong Den Quan Y Vien Pleiku
Nguyen Thi Ngoc Lan –Moi Tinh Dau Va Chuyen Doi Toi – PHAN 10
Bui Thanh Xuan –Nguyet Que – 3
Tran Nhu Phuong –Toi Muon
Viet Hai – Tat Ca Cho Nguoi Phong Cui
Topa Panning –Xin Em Dung Hoi – PHAN 2
Bich Phuong – Dem Mua Ben Dong Tieu Tuong
Nguyen Thi Thanh Tri – Cam On Nguoi…
Tra Kim Huy – Tinh Que
Kieu Lam – Ngay Ve
Ha Thi Thu Thuy – Me, Me La Tat Ca - Gioi thieu: Be Duong Huyen Tran Va Bai Tho; "ME YEU"
Vinh Ho – Tan Man Ve Tieu Hoi Ngo Tai Nha Vinh Ho
Hoang Phi –Thi Pham XA PHUONG – Doc Tho Hoang Phi: Doi Dieu Cam Nhan
Bach Lien – Trong Khoanh Khac Nay
Nguyen Xuan Hoang –ME Toi – Phan 2
Tran Minh Hien – Cam On ME Yeu
Ly Ho – (1) Gian Me La Bat Hieu (2) Lam Sao Quen (3) Hieu Trung Nhan Nghia
Tram Anh – Mhan Ngay Le ME – PHAN 1
Lien Khoi Chuong –Ve Tranh
Tran Dinh Nguyen Soai – Ga Rung….Ga
Le Van Phan –(1) Me-Cha (2) Ai Cung Co Que Huong
Nhat Chi Mai –Buc Tranh Ve Hoa Tren Giay
Tran Thi Chat – Nhu Mot Ang May – Phan 2
Hoang Thi Lan – Nhung Ngay Vui O Minnesota – Phan 4
Hoang Bich Ha – Hay Biet The Nao La Du Trong Cuoc Song
Vo Hoang Nam – NGU NGON Thoi Hien Dai: Bang Long Voi Cuoc Song
Nguyen Thi Khanh Minh – Vuon Thom
Nguyen Quan – Loi Goi…Ban Be
Hoang Cong Khiem – Pho Vang Em Roi
Le Hung Than – Ke Em Nghe
Nguyen Tuong Hoai – Tinh Tho Nam Cu – 7
Nam Kha – Con Chut Hut Hoi


Kinh chuc quy dong huong vui ve, binh yen, hanh phuc va nhieu suc khoe. Mong don nhan moi sang tac va hinh anh.


Xin gui ve:
diem27thuy@yahoo.com





__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
  #104  
Cũ 08-03-2012, 11:07 AM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Thumbs up Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương

Thứ tư 01 Tháng Tám 2012
Viễn Châu, soạn giả ngoại hạng của sân khấu cải lương
Nghe (17:58)
Thêm vào danh mục của tôi
Tải về
Embed

Soạn giả Viễn Châu
DR

Lê Phước RFI

Trong lịch sử h́nh thành và phát triển hơn 90 năm của sân khấu cải lương, có một nghệ sĩ có đến 70 năm cống hiến với những thành công rực rỡ trong cả hai lĩnh vực : đàn và sáng tác lời vọng cổ. Ông cũng chính là người góp phần to lớn cho thành công của đại đa số nghệ sĩ cải lương thời hoàng kim. Đó chính là soạn giả Viễn Châu - danh cầm Bảy Bá.

Đệ nhất thập lục huyền cầm

Nhắc đến ông, trước tiên là nhắc đến người được mệnh danh “Đệ nhất thập lục huyền cầm” Bảy Bá. Trong những năm 1960, thời vàng son của sân khấu cải lương, có một bộ ba đờn cổ nhạc được mệnh danh là “Tam hùng” bao gồm : Năm Cơ đàn sến, Văn Vĩ đàn guitar phím lơm và Bảy Bá đàn tranh. Đến hiện tại, chưa thấy có tay đờn nào vượt qua được bộ ba kiệt xuất này.
Ông tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh ngày 21/10/1924 tại xă Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Trong gia đ́nh ông là người con thứ Sáu, nên ông lấy nghệ danh Bảy Bá đúng theo cách gọi của người miền Nam.
Năm 12 tuổi ông đă thành thạo đàn tranh và đàn guitar phím lơm. Tuy nhiên ngón đàn tranh của ông đă in dấu ấn sâu đậm trong ḷng đồng nghiệp và người mộ điệu. Một ngón đờn mượt mà qua từng âm thanh đầy gợi cảm, lúc th́ du dương, lúc th́ róc rách như tiếng của ḍng suối th́ thầm, lúc véo von như tiếng sơn ca, lúc th́ trầm lắng như tiếng ḷng người mang nhiều tâm sự.
Ông đă có công khai phá nhiều lối chơi, tạo thêm nhiều bài học kinh nghiệm cho dàn nhạc cổ trong sinh hoạt đờn ca tài tử và sân khấu cải lương chuyên nghiệp của Nam Bộ.
Soạn giả Kiên Giang từng ca ngợi: “Ngón đờn tranh điêu luyện của anh Bảy Bá như rót vào hồn bài vọng cổ những rung động con tim của người nghệ sĩ đă có nhiều vốn sống”.

Ông vua viết lời vọng cổ

Đến hiện tại, sân khấu cải lương biết đến một số ít các ông vua: Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, Vua ca vọng cổ hài Văn Hường, Hoàng đế đĩa nhựa Tấn Tài. Thế nhưng, người góp phần quan trọng đưa các vị vua nói trên lên ngôi báu chính là Viễn Châu, người được mệnh danh là “Vua viết lời vọng cổ”.
Nghệ danh Viễn Châu có từ năm 1950, khi ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng”. Từ “Viễn Châu” hàm ư chữ đầu của “Viễn xứ”, cộng với chữ cuối trong tên xă Đôn Châu quê hương ông, một cách để ông nhớ về quê hương nguồn cội.
Bảy mươi năm tay viết tay đàn, ông đă sang tác gần 70 vở cải lương lớn nhỏ. Tuy nhiên, ông được biết đến nhiều nhất với tài viết lời vọng cổ với hơn 2000 bài, lập kỷ lục trong làng sân khấu cải lương.
Những sáng tác theo kiểu “đo ni đóng giày” của ông đă góp phần làm nên nhiều tên tuổi: T́nh anh bán chiếu-Út Trà Ôn, Hoa lan trắng-Út Bạch Lan, Áo t́nh đắp mộ người yêu-Ngọc Giàu, Tiếng trống tàn canh-Thành Được, Bạch Thu Hà -Lệ Thủy, Tu là cội phúc- Minh Cảnh, Lắng tiếng chuông ngân-Thanh Nga, Ḥn vọng phu-Mỹ Châu, Hận Kinh Kha- Tấn Tài, Ḷng dạ đàn bà-Minh Vương….
Nghệ sĩ Ngọc Giàu khẳng định: “Không có Viễn Châu là không có Ngọc Giàu cũng như gần hết các tên tuổi cải lương nổi tiếng của cải lương thời hoàng kim. Hồi mới 12-13 tuổi ông đă viết cho tôi bài Áo t́nh đắp mộ người yêu để tôi thu dĩa và nổi tiếng từ đấy. Nhiều nghệ sĩ khác thời c̣n con nít như tôi cũng được nổi tiếng nhờ những bài ca của chú Bảy đo ni đóng giày…”.

Ông tổ của Tân Cổ giao duyên

Ông được xem là người tiên phong kết hợp tân nhạc với cổ nhạc thành ra một thể loại vọng cổ mới mà ông đặt tên là “Tân cổ giao duyên”. Số là vào năm 1958, sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, nhờ biết chơi đàn guitar và đàn tranh, ông đă đem bài tân nhạc Chàng là ai ? của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết ḥa với bài vọng cổ. Ông mạnh dạn bỏ hai câu 3 và 4 v́ dễ bị trùng lắp, để đưa tân nhạc vào, tạo thành một bài tân cổ giao duyên hoàn chỉnh.
Sau đó đưa cho hăng đĩa thu âm và phát hành. Hăng đĩa Hồng Hoa phát hành đĩa tân cổ giao duyên với giọng ca Lệ Thủy, lập tức bài tân cổ giao duyên được đông đảo thính giả đón nhận. Dù bị báo chí Sài G̣n lúc bấy giờ đả kích kịch liệt, nhưng ông vẫn quyết tâm tiếp tục thể nghiệm. Kết quả là, thể loại tân cổ giao duyên đă thành công ngoài mong đợi, và đến hiện tại vẫn được người mộ điệu tiếp tục đón nhận.

Cha đẻ của Vọng cổ hài

Thường khi nói về vọng cổ, người ta nghĩ ngay đến một cái ǵ đó buồn thảm, bi ai. Thế mà, soạn giả Viễn Châu đă “lật ngược” một cách ngoạn mục lối suy nghĩ đó. Năm 1960, ông viết bài vọng cổ hài đầu tiên mang tên “Đêm tân hôn” cho danh hài Văn Hường ca.
Bài ca đă đưa Văn Hường đến với con đường chinh phục vọng cổ hài. Tiếp sau đó, ông viết một loạt các bài ca hài hước khác cho Văn Hường: Vợ tôi nói tiếng Tây, Tôi mến làng tôi, Sợ vợ, Chó mực đầu cáo, Lá sớ táo quân, Tề Thiên Đại Thánh…. Nhờ vào những bài “đo ni đóng giày của ông”, Văn Hường đă đạt đến đỉnh cao vinh quang khi được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ hài”.

Biệt tài viết vọng cổ ngay tại pḥng thu

Nói về cái tài viết vọng cổ, Viễn Châu là người có khả năng “xuất khẩu thành … vọng cổ”. Ông có thể cầm bút viết ngay tại pḥng thu. Anh em trong nghề vẫn hay kể nhau nghe về hai bài hát viết chưa ráo mực đă được thu đĩa của ông.
Vào khoảng năm 1964, ngay tại pḥng thu, ông được yêu cầu viết một bài vọng cổ để nghệ sĩ Hữu Phước ca thu đĩa tại chỗ. T́nh thế cấp bách, ông nhận lời viết liền. Thế là khi mọi người đi rước hai nhạc sỹ Văn Vĩ và Năm Cơ tới, ông đă viết xong 3 câu đầu của bài vọng cổ “Nhớ mẹ”. Hữu Phước vào pḥng thu ca xong ba câu đó, th́ Viễn Châu cũng vừa hoàn tất ba câu vọng cổ c̣n lại.
Một thời gian sau, cũng tại pḥng thu, ông lại được yêu cầu viết ngay một bài cho nghệ sĩ Thanh Nhàn ca. Thế là ông viết liền bài “Trái khổ qua”, lấy cảm hứng từ việc nh́n thấy một anh đầu bếp đi chợ mua về một thúng đồ ăn, trong đó có đựng mấy trái khổ qua.
Điều đáng chú ư là dù được viết vội vă, nhưng đây lại là hai bài vọng cổ thuộc hàng kiệt tác.

Nét đặc sắc trong phong cách Viễn Châu

Ông được mệnh danh là Vua viết lời vọng cổ không phải chỉ v́ ông viết được đến hơn 2000 bài ca, mà c̣n v́ ông đă tạo ra cho những bài vọng cổ của ḿnh một phong cách rất riêng, “rất Viễn Châu”. Sau đây là một vài nét nôi bật trong phong cách đó :
- Dễ ca, dễ nhớ: Do có lợi thế là thông thạo đàn tranh và đàn guitar phím lơm, Viễn Châu đă uốn lời bài hát một cách uyển chuyển, mượt mà với cách phân chữ rất “vô khuôn”, nên rất dễ ca. Đặc biệt các bài vọng cổ của ông có bố cục rơ ràng, nói theo trong nghề là “không lan man”, nên rất dễ nhớ. Có lẽ đó cũng chính là một yếu tố quan trọng khiến bài ca vọng cổ của Viễn Châu trở nên rất đại chúng.
- Một lượng kiến thức sâu rộng: Dù dễ ca dễ nhớ, nhưng các bài vọng cổ của Viễn Châu hàm chứa một lượng kiến thức rất sâu rộng. Ông đưa vào bài hát từ dân ca, tục ngữ đến các điển tích xa xưa, mà cái hay là ông đưa những kiến thức đó vào trong bài ca một cách “rất ngọt”.
Chẳng hạn như trong bài vọng cổ “Hoa Đào năm ngoái” viết về mối t́nh của Thúy Kiều và Kim Trọng, ta t́m thấy hai câu thơ trứ danh của nhà thơ Đỗ Phủ :
“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm”

(Khóm cúc tuôn thêm ḍng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối t́nh nhà)

Hay hai câu thơ bất hủ của Thôi Hộ:
“Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong”

(Người đẹp năm xưa đâu rồi nhỉ,
Chỉ thấy hoa đào cợt gió đông)

hoặc thơ của vua Tự Đức trong bài “Khóc Bằng Phi”:
“Đập cổ kính ra t́m lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi”

Và c̣n biết bao điển tích, thơ văn khác nữa….
- Một nhà thơ lớn: Trong nhiều bài vọng cổ của Viễn Châu, ta thấy có những bài thơ thuộc hàng kiệt tác, đủ để khẳng định rằng Viễn Châu cũng là một nhà thơ lớn. Chẳng hạn như bốn câu thơ nối lối trong bài vọng cổ “Gánh nước đêm trăng”, kể về tâm sự của một anh nông dân nghèo phải đi làm ăn xa xứ, ba năm sau khi trở về th́ người yêu gánh nước đêm trăng với ḿnh thuở nào đă sang ngang:

“Năm tháng dăi dầu nơi đất khách
Nhớ em tôi trở lại quê nghèo
Đêm khuya vắng bóng người thôn nữ
Sương nhỏ trên cành lệ nhỏ theo”

Hay bốn câu nối lối trong bài “Xuân đất khách” (Tâm sự kẻ ly hương) viết về tâm sự của người xa xứ:
“Đất khách bơ vơ lạ bốn bề
Nên ḷng cứ măi nhớ thương quê
Màu xuân về nữa xuân về nữa
Tuyết trắng rơi nhiều dạ tái tê”

- Lối kết thúc bài hát rất dễ nhớ: Một nét đặc biệt nữa trong phong cách Viễn Châu, đó là đa số bài ca của ông đều được kết thúc bằng hai câu thơ lục bát, một lối kết thúc rất ngọt, rất trữ t́nh và rất dễ nhớ. Chẳng hạn như cuối bài vọng cổ “Lá Bàng Rơi”, ông viết:
“Lá bàng rơi rụng về đâu
Lá thu rụng hết đoạn sầu c̣n đây”.

Hay trong bài “T́nh anh bán chiếu”, hai câu kết cũng là hai câu thơ rất ngọt:
“Sông sâu bên lở bên bồi,
T́nh anh bán chiếu trọn đời không phai.”

Hoặc hai câu kết trong bài « Lá Trầu Xanh » :
« Mưa rơi lạnh buốt khung trời,
Anh phụ em rồi, em (c̣n) biết tin ai »

Hai câu kết trong bài « Ḷng dạ đàn bà » cũng rất độc đáo :
« Cho hay trong đạo vợ chồng,
Biết ai chung thủy, ai ḷng bạc đen”

Bí quyết sáng tác của Viễn Châu

Nói về bí quyết sáng tác của ḿnh, nghệ sĩ Viễn Châu cho rằng, khi viết, không phải mực trào ra đầu ng̣i bút mà đó là tim óc, trí năo của ông đang đặt hết vào đầu bút để tuôn thành lời !

Thật vậy, để viết thành công, khi viết, người viết phải tạm quên ḿnh đi và hóa thân vào nhân vật ḿnh đang viết. Như vậy, Viễn Châu đă hóa thân thành công trong hàng ngàn vai diễn với hơn 2.000 bài vọng cổ và 70 vở cải lương. Viễn Châu thật sự là « Một soạn giả ngoại hạng», bởi trong lịch sử h́nh thành và phát triển của sân khấu cải lương hơn 90 năm nay, rơ ràng chưa có một soạn giả cổ nhạc nào đạt được nhiều thành công rực rỡ như ông.

Viễn Châu được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú vào năm 1988. Năm 2012, ông được đặc cách phong Nghệ sĩ nhân dân cùng với ba cô học tṛ của ḿnh: Ngọc Giàu, Bạch Tuyết và Lệ Thủy.

TỪ KHÓA : Âm nhạc - Nhạc cổ truyền - Tạp chí - Văn hóa - Việt Nam


__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
  #105  
Cũ 09-30-2012, 06:41 PM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Default Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”

Thứ bảy 29 Tháng Chín 2012
Thanh Sang: Một giọng ca “trời sầu đất thảm”





Nghệ sĩ Thanh Sang trong vở "T́nh anh bán chiếu". DR



Lê Phước
Các giọng nam ca mùi th́ có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” th́ có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang c̣n để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.

Trong làng cải lương, không ai không biết đến nghệ sĩ Út Bạch Lan với giọng ca được mệnh danh là “Sầu nữ". Không phải những giọng ca nữ khác không u buồn, nhưng nói về độ mùi mẫn bi ai th́ rơ ràng không ai vượt qua được Sầu nữ Út Bạch Lan. C̣n nếu nh́n vào các giọng ca nam, ca mùi th́ có rất nhiều, nhưng giọng thiên phú mà khi cất lên là “trời sầu đất thảm” th́ có lẽ giọng ca Thanh Sang phải được xếp hàng số một. Bên cạnh giọng ca trời cho, Thanh Sang c̣n để đời với nhiều vai diễn thuộc hàng kinh điển của sân khấu cải lương.Bỏ đời ngư phủ theo nghiệp cầm ca
Nghệ sĩ Thanh Sang tên thật Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại xă Phước Hải, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Gia đ́nh ông làm nghề chài lưới, rất nghèo khổ, lại đông con, mà ông lại là con trai một, nên cái gánh nặng gia đ́nh tự nhiên trở thành một áp lực vô h́nh đè nặng lên ông, để phải t́m mọi cách đổi đời cho gia đ́nh bớt khổ.
Nếu ai có dịp về Phước Hải sẽ không khỏi ngậm ngùi khi nói tiếng chia tay với vùng duyên hải thơ mộng này. Núi non hùng vĩ đứng bên bờ biển bao la của vùng Phước Hải đă kết tinh thành một giọng ca buồn miên man nhưng đầy khí khái của cậu bé tên Thu.
Thuở nhỏ, Thanh Sang học ca vọng cổ theo tiếng đờn của danh cầm Văn Vĩ trên đài phát thanh, 12 giờ khuya hằng đêm mà ông nghe ké được từ nhà hàng xóm. Khi biết ca rồi, ông bèn năn nỉ mấy thầy đờn tập giùm những lúc họ rỗi rảnh. Về diễn xuất cũng vậy, vẫn theo đà của thế hệ vàng, nghề ca hátđược truyền theo kiểu nghề dạy nghề, Thanh Sang ngồi cánh gà coi riết rồi thuộc hết thảy các vai tuồng, kể cả vai nữ. Để rồi lại “trông mong” có nghệ sĩ nào bị đau ốm để được lên đóng thế.
Mới hơn 14 tuổi ông đă bắt đầu theo nghiệp tổ. Cái áp lực khi ấy đối với ông nặng lắm, bởi đă bỏ nghề cá và bỏ xứ theo nghiệp hát ca th́ phải làm sao có chút đỉnh thành công, nếu không th́ c̣n mặt mũi nào dám trởlại nh́n mặt xóm làng. Áp lực nặng đến mức mà Thanh Sang từng ví chuyến đi của ḿnh như : “Kinh Kha qua sông Dịch”.
Con đường khởi nghiệp của Thanh Sang cũng lắm gian nan. Ông kể, chờ hoài mà mấy anh kép chánh không chịu bệnh, chỉ có kép phụ bị làm khó làm dễ rồi xin nghỉ để mới được cho đóng thế vai phụ. Những vai phụ đầu tiên của chàng trai tuổi đôi mươi lại là vai lăo. Lúc trẻ tên tuổi Thanh Sang gắn với vai lăo nhiều hơn.
Đúng như câu “Tái ông thất mă”, cuộc đời mà, trong cái rủi th́ ắt hẳn có cái may, cũng chính nhờ đóng vai lăo mà Thanh Sang đă đạt đến đỉnh cao vinh quang khi đoạt Huy chương vàng giải Thanh Tâm vào năm 1964, giải thưởng cải lương danh giá nhất tính đến hiện tại. Vai diễn đưa Thanh Sang đến với giải thưởng cao quí này là vai Tạ Tốn trong vở “Cô Gái Đồ Long”.
Đây là một vai diễn rất khó, v́ người diễn bị mất đi một vũ khí diễn xuất lợi hại nhất của người nghệ sĩ trên sân khấu, đó là đôi mắt, do Tạ Tốn là một nhân vật mù. Hơn nữa đây là một nhân vật có tuổi, mà lại cùng với bao sóng gió của cuộc đời, Tạ Tốn lại càng trở nên già nua với ngổn ngang tâm sự. Như tổ nghiệp đă cố t́nh sắp đặt, giọng ca của Thanh Sang rất hợp với nhân vật Tạ Tốn này: giọng ca u buồn, đong đầy tâm sự, nhưng luôn có một xung lực phi thường, cách diễn của Thanh Sang lại rất chừng mực, nên đă thể hiện xuất sắc vai diễn này.
Có vẻ ban tổ chức của giải Thanh Tâm đă có lư khi quyết định trao huy chương vàng cho Thanh Sang, v́ đến hiện tại vai Tạ Tốn vẫnđược xem là “vai của Thanh Sang”, bởi chưa thấy ai đóng qua được. Sự có lư của ban tổ chức giải Thanh Tâm c̣n được khẳng định thêm, khi năm 1964 cùng với Thanh Sang th́ nữ nghệ sĩ Lệ Thủy cũng nhận giải thưởng cao quí này. Và đến hiện tại, hai nghệ sĩ này đă thật sự vượt mong đợi của những người trao giải với những thành công không thể nào rực rỡ hơn nữa trên sân khấu cải lương.
Thanh Sang -Thanh Nga: Đôi bạn diễn “xưa nay hiếm”
Thanh Sang từng tâm sự rằng, khi c̣n trẻ th́ được giao đóng vai già, c̣n khi lớn tuổi lại được chọn đóng vai kép trẻ. Quả thật vậy, và sự chọn lựa này của các đạo diễn dành cho Thanh Sang không phải là không có lư, bởi cái vai già ông đóng khi trẻ cũng thành công, mà cái vai trẻ ông đóng khi già cũng lại rất thành công.
Nói về vai kép chính trẻ trung đầu tiên của Thanh Sang phải nhắc đến vai Đông Nhật trong vở Tuyết Phủ Chiều Đông. Đây cũng là một cơ duyên, bởi khi ấy ở đoàn Ngọc Kiều của ông bầu Hoàng Kinh, anh kép chánh Hùng Cường vừa đánh người phải đi hầu ṭa, nên Thanh Sang được chọn thế vai cho Hùng Cường, và con đường kép chánh của Thanh Sang bắt đầu từ đó.
Thế nhưng,để gọi là thành công rực rỡ, tức tạo được dấu ấn trong ḷng người mộ điệu cải lương, th́ phải chờ đến khi Thanh Sang về đoàn Thanh Minh -Thanh Nga của bà Bầu Thơ, mẹ của cố nghệ sĩ Thanh Nga. Ở đó, tổ nghiệp dường như đă có ư đền đáp cho thái độ làm nghệ thuật nổi tiếng nghiêm túc của bà Bầu Thơ bằng cách ban cho đoàn hát của bà một đôi Kim Đồng Ngọc Nữ Thanh Sang -Thanh Nga.
Đôi bạn diễn thành công đến mức mà đến hiện tại, dù có b́nh luận thế nào, tranh căi ra sao, th́ hễ nhắc đến Thanh Sang người ta lập tức nghĩ ngay đến Thanh Nga, mà hễ bàn về Thanh Nga th́ lại nghĩ ngay đến Thanh Sang. Cả hai đều có giọng trầm buồn, đầy nội lực, cách ca cách diễn rất chừng mực, cách làm nghệ thuật rất nghiêm túc, nên sự ăn ư trên sân khấu đă đạt đến mức hoàn hảo.
Năm 1978, Thanh Nga bất hạnh qua đời, sự ra đi này là một tổn thất không ǵ bù đắp nổi đối với sân khấu cải lương, bởi đó là sự ra đi của một nữ nghệ sĩ tài sắc lưỡng toàn được mệnh danh là Nữ hoàng sân khấu. Thế nhưng mất mát cho cải lương c̣n ở chỗ: sự ra đi của Thanh Nga cũng khiến cho sân khấu cải lương mất một đôi bạn diễn thuộc hàng “xưa nay hiếm”.
Trần Minh -Thanh Sang: Ca nội tâm, diễn chân phương
Vỡ tuồng Bên Cầu Dệt Lụa đă mang đến hai h́nh tượng thuộc hàng đẹp nhất cho sự thủy chung son sắt. Nếu Thanh Nga xuất sắc với vai nàng tiểu thư Quỳnh Nga dám vượt khuê môn đến chăn tằm dệt vải bên cầu để lấy tiền cho người chồng hứa hôn lên kinh ứng thí, th́ Thanh Sang cũng đáp lại bằng vai diễn để đời với một hàn sĩ Trần Minh, bị nhạc trượng tương lai ruồng bỏ do chê gia thế bần hàn, đến độ mẹ ruột bị hành hạ đến uất ức mà mang bệnh chết.
Trong nghịch cảnh ấy, ḷng thù hận của Trần Minh đối với nhạc trượng đă được hóa giải bằng tấm chân t́nh của người vợ hứa hôn Quỳnh Nga. Để rồi, khi đỗ trạng nguyên, bị vua dùng quyền uy tối thượng ép chàng phải cưới công chúa, Trần Minh đă từ chối cái ngôi pḥ mă cao sang, thậm chí sẵn sàng chấp nhận cái chết để giữ cho vẹn thủy toàn chung với người vợ tào khang Quỳnh Nga ở quê nhà.
Lớp diễn Trần Minh đối đáp với vua và công chúa giữa trào đ́nh là một lớp diễn xuất thần của Thanh Sang. Nét khẳng khái, sự quyết liệt, cách đối đáp chân thật mà uyên bác, thâm thúy mà giản đơn đă được Thanh Sang thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế: nhẹ nhàng v́ Thanh Sang có lối diễn chừng mực không phô trương, tinh tế v́ Thanh Sang biết khai thác tối đa thế mạnh của giọng ca đầy nội tâm để biểu đạt hết cái thần của nhân vật.
Một nét đáng chú ư trong lớp diễn này, nhất là đoạn Trần Minh ca hai câu vọng cổ đối đáp với vua khi vua mang gươm lệnh ra dọa nếu Trần Minh từ chối ngôi pḥ mă th́ sẽ phải mất đầu: đây là một lớp diễn rất khó. Khó trước tiên là về cách diễn xuất phải làm sao bộc lộ được sự quyết liệt từ chối nhưng phải giữ được đạo quân thần, chứ không phải từ chối của một kẻ b́nh dân, mà là từ chối của bậc trạng nguyên có ăn có học.
Cái khó thứ hai mà cũng là cái khó chính, đó là lời bài ca trong lớp diễn. Hai câu vọng cổ mà Trần Minh ca đối đáp với vua hàm chứa rất nhiều điển tích, mà phải chi điển tích là những câu chuyện dài th́ c̣n có thể nắm cốt chuyện mà nhớ, đằng này lại liên quan đến một loạt các tên tuổi lấy từ Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu. Chẳng hạn như đoạn đối thoại có những lời như sau:
“Muôn tâu, thánh như Ngũ đế, nhân như Tam Vương, mạnh như Ô Hoạch, dơng như Mạnh Bôn Hạ Dục mà c̣n phải chết, trên đời có ai thoát khỏi chết đâu mà thần phải sợ”.
Chúng ta thấy, dẫu là người có học cao, khi ca đoạn này cũng phải học thật kỹ, nếu không khi đang ca trong ḷng bản vọng cổ, không có thời gian đâu mà suy nghĩ nhiều, nên việc nói nhanh mà nhầm lẫn tên là rất khả dĩ. Ấy thế nhưng ở Thanh Sang cách diễn xuất rất tự nhiên, cách ca rất trôi chảy, lời ca trong nét diễn, nét diễn trợ lời ca, cho thấy đó thật sự là một Trạng Nguyên thuộc lào kinh sử, chứ không phải là một anh kép hát đang vừa ca vừa vắt óc nhớ lời hoặc ca một cách vô hồn, không hiểu ǵ về tên những nhân vật mà minh đề cập.
Xuất thân hàn vi nên Thanh Sang không được ăn học nhiều, nhưng Thanh Sang luôn chịu khó tự trao dồi kiến thức, và khi ca diễn ông có thể hiểu trọn vẹn những tích tuồng mà ḿnh tham gia đóng. Trong giới cải lương, Thanh Sang được mệnh danh là người có hiểu biết rộng, thông tuệ nhiều thứ. Thế mới thấy được sự phấn đấu phi thường đáng trân trọng của nghệ sĩ Thanh Sang, một sự phấn đấu mà không phải những ngườiđược xem là trí giả đôi khi c̣n không có. Thế mới thấy thế hệ nghệ sĩ trẻ sau này nên soi vào đó để tự trao dồi, trao dồi không chỉ kiến thức chuyên môn, mà c̣n cả những kiến thức sử xanh cần thiết.
Lớp diễn để đời khác trong tuồng Bên Cầu Dệt Lụa là đoạn Trần Minh đỗ trạng nguyên xong về lại quê xưa, nhưng xin phép vua không làm lễ vinh quy bái tổ ŕnh rang như thông lệ, mà lại chọn cách xếp cờ êm trống, mặc áo cơ hàn mang bầu rượu nhạt đến t́m gặp người bạn tri giao là hàn sĩ Nhuận Điền. Nghệ sĩ Thanh Tú thủ vai Nhuận Điền đă cùng Trần Minh -Thanh Sangđể lại cho đời một t́nh bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa.
Đặc biệt, khi Nhuận Điền ngạc nhiên thấy Trần Minh đă là trạng nguyên mà c̣n mang rượu mua ở quán nghèo tại quê hương đến mời bạn, Nhuận Điền hỏi: “Giờ đă là trạng nguyên rồi mà c̣n uống được rượu quán nghèo nơi xóm cũ à?”,Trần Minh -Thanh Sang vô vọng cổ câu 5 để trả lời: “Uống chớ đại huynh, tuy rượu quán nghèo mà nồng nàn hương vị, xin kính cẩn nâng ly mời tri kỷ, mượn chén rượu ngày xưa cho tṛn vẹn… thâm ….t́nh”. Giọng ca Thanh Sang trầm ấm, trữ t́nh, chứa đầy tâm sự, nên chỉ với bốn chữ: “Uống chớ đại huynh” thôi th́ người nghe cũng có thể hiểu được trọn vẹn nổi ḷng của nhân vật rồi. Chỉ bốn chữ đơn giản như thế mà đến giờ phút này, đă có không ít nghệ sĩ trích lại đoạn nói trên, nhưng chưa thấy ai đạt đến tŕnh độ: “Bốn chữ nói lên tất cả” như Thanh Sang.
Thế nhưng, trong vở tuồng Bên Cầu Dệt Lụa, khi nhắc đến Quỳnh Nga -Trần Minh, người mộ điệu nghĩ ngay đến đoạn Quỳnh Nga đến tiễn Trần Minh lên đường lai kinh ứng thí. Nàng mang đến cho chàng gói hành trang, lộ phí, mà điều đáng quư là tất cả những thứ đó đều do tự tay nàng làm ra sau khi rời khỏi lầu son gác tía trong phủ quan huyện của cha nàng để đến dựng quán bán vải bên cầu. Ư nghĩa nhất lúc này đó là chiếc áo ngự hàn mà nàng đă thức suốt bao đêm để dệt bằng “tơ tâm sự”. Thanh Nga ca hai câu vọng cổ để trao gói hành trang, th́ Thanh Sang sau đó cũng ca hai câu vọng cổ đáp tạ chân t́nh. Đoạn ca này cả hai đă thật sự đạt tŕnh độ thượng thừa về ca diễn. Đặc biệt về ca, tất cả những t́nh cảm cần thể hiện đăđược đôi nghệ sĩ ngọc ngà này của sân khấu cải lương đưa hết vào trong lời ca.
Đáp lại Quỳnh Nga -Thanh Nga, Trần Minh -Thanh Sang đă ca như vầy: “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc, rừng rực lửa yêu đương ta nguyện cùng ai thề giữ vẹn chữ …chung…t́nh”. Những chữ “Quỳnh Nga ơi nhận vật trao tay ta nghẹn ngào muốn khóc” được Thanh Sang đưa hết t́nh cảm vào đó. Với giọng ca đầy nội lực và nội tâm của Thanh Sang, chỉ với mấy chữ mở đầu này cũng đủ để khán giả cảm được sự rưng rung nước mắt trong ḷng của bậc trượng phu Trần Minh, không cần phải xem thêm động tác ǵ nữa.
Giọng ca của Thanh Sang rất thích hợp cho những vai nội tâm cao, đây là một ưu thế của ông, nên ông đă triệt để khai thác, và khai thác một cách xuất sắc cho đoạn ca này. Nhiều nghệ sĩ thế hệ sau ca diễn lại đoạn này, nhưng do giọng ca thiếu nội lực, do không có được làn hơi đầy nội tâm như Thanh Sang, hoặc do diễn hơi bị lố, nên chưa thấy có ai thể hiện xuất thần đoạn này như Thanh Sang.
Thành công của Thanh Sang trong Bên Cầu Dệt Lụa đến mức mà khán giả miền Tây thường biết đến tuồng cải lương này qua tên Trần Minh Khố Chuối, và h́nh tượng một Trần Minh nghèo khổ hiếu học, vẹn thủy toàn chung đă đi vào đời sống thường nhật của người Nam Bộ, bởi rất thường khi gặp một người nam nghèo khổ có chí học hành th́ nhiều người gọi ngay đó là “Trần Minh khố chuối”.
Thi Sách -Thanh Sang: Đỉnh cao của nét diễn bi hùng
Một vai diễn để đời nữa của Thanh Sang là vai Thi Sách trong vở Tiếng Trống Mê Linh cũng đóng cặp với Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga. Nếu trong vai Trưng Trắc, Thanh Nga đă tạo ra những đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến giờ này chưa nữ nghệ sĩ cải lương nào vượt qua, th́ Thanh Sang cũng đă “gây khó dễ” cho thế hệ sau với vai Thi Sách, bởi đến hiện tại chưa thấy ai tiếp bước một cách xứng tầm cho vai diễn này. Và hễ nhắc đến Thi Sách trong Tiếng Trống Mê Linh là người mộ điệu nghĩ ngay đến Thanh Sang.
Lớp diễn để đời cho cả hai nghệ sĩ bậc thầy này là lớp Trưng Trắc -Thanh Nga tế sống Thi Sách -Thanh Sang trước cửa thành Luy Lâu. Số là Thi Sách bị Tô Định bắt đem lên giàn hỏa để uy hiếp buộc Trưng Trắc lui quân. Thế nhưng, vận mệnh non sông chỉ c̣n ở trận đánh đó thôi, chỉ c̣n ở thời cơ đó thôi. Nợ nước t́nh nhà đè nặng lên vai Trưng Trắc. Thanh Nga đă xuất thần trong lớp diễn tế sống chồng với hai câu vọng cổ thuộc hàng “quỷ khốc thần sầu”. Thi Sách -Thanh Sang cũng không hề lép vế với bạn diễn. Trên giàn hỏa, Thi Sách-Thanh Sang khảng khái khuyên vợ đặt việc nước trước t́nh nhà để tấn binh diệt giặc. Thanh Sang cũng đă ca hai câu vọng cổ thuộc hàng “thần sầu quỷ khốc”.
Cả hai đă gặp nhau ở một điểm, mà lại là điểm quyết định cho giá trị thật sự của vai diễn, đó là: sự bi hùng. Trưng Trắc -Thanh Nga tế sống chồng trước ba quân nên không thể “bi lụy” được, c̣n Thi Sách -Thanh Sang lên tiếng khuyên vợ trước ba quân cũng phải dằn niềm riêng mà quyết chí v́ nghĩa lớn của dân tộc.
Như đă nói, thế mạnh của Thanh Sang là có một giọng ca biểu lộ nội tâm rất tốt, bởi vậy Thanh Sang đă vận dụng thế mạnh này một cách tuyệt vời cho vai Thi Sách và đặc biệt là cho đoạn trên giàn hỏa.
Trong đoạn ca kêu gọi Trưng Trắc-Thanh Nga tiến quân, Thi Sách -Thanh Sang ca như vầy: “Ta cám ơn tất cả đă tạm đ́nh binh để kéo dài mạng sống cho ta dù trong phút giây ngắn ngủi. Nhưng nàng hăy ra lệnh cho nghĩa binh anh dũng hăy nổi trống đồng lên. Hăy nổi trống tấn công đi…”. Sáu chữ “Hăy nổi trống tấn công đi” của Thi Sách -Thanh Sang âm vang, uy vũ, nhưng lại rất chan chứa tâm t́nh. Uy vũ v́ là lời ra lệnh với tư cách chủ tướng dành cho thuộc cấp, chan chứa thâm t́nh v́ thuộc cấp chẳng ai khác là người vợ tào khang, bảo vợ tấn binh tức đồng nghĩa với việc âm dương hai ngă, nhưng biết làm sao hơn khi mà “Sống thác là chuyện đi về, hợp tan là tṛ dâu bể. Tất cả đều không có đáng kể. Mà điều đáng lo là sự trường tồn của ḍng dơi Hùng Vương”.
Nội tâm bi hùng đó đă được thể hiện một cách trên cả tuyệt vời qua giọng ca đầy nội tâm của Thanh Sang. Và sáu chữ “Hăy nổi trống tấn công đi” thật đơn giản, dễ ca, nhưng mỗi khi nghe Thanh Sang ca sáu chữ này, người nghe ắt hẳn không khỏi giật ḿnh về “độ bi hùng” trong giọng ca Thanh Sang. Để đạt được tŕnh độ bi hùng thượng thừa như Thanh Sang trong vai Thi Sách th́ đến hiện tại chưa thấy có ai.
Một giọng ca “trời sầu đất thảm”
Thanh Sang có giọng trầm, đầy nội lực, man mác u buồn nhưng không bi lụy. Như đă nói, đây là một giọng ca rất thích hợp cho các vai có nội tâm cao. Nói về ca vọng cổ, th́ giọng ca này cũng đúng cái bản chất của bài ca vọng cổ: “Chân phương hoa lá”. Tức ca vọng cổ là phải ca chân phương, không điệu đà thái quá, không làm dáng dư thừa, mà phải có sao ca vậy, giống như câu ḥ lời ru Nam Bộ, mộc mạc mà ngọt ngào, ru hồn người nghe một cách dịu êm. Thế nhưng, chân phương không có nghĩa chết cứng, mà phải biết dùng giọng ca trời cho và sự điêu luyện trong nhịp nhàng, cùng với cách sắp chữ, nhấn nhá để tạo hoa lá cho bài hát, qua đó tạo dấu ấn riêng cho ḿnh.
Đâu phải ngẫu nhiên mà giọng ca Út Trà Ôn đi vào huyền thoại. Nghe Út Trà Ôn ca, ta thấy ngay đó là một giọng ca chân phương, nhưng những cung bậc t́nh cảm đa dạng của cuộc đời đă được nghệ sĩ bậc thầy này đưa vào bài ca trọn vẹn. Bởi thế mà, đến hiện tại, cái mỹ danh Vua ca vọng cổ vẫn thuộc về Út Trà Ôn.
Lúc thiếu thời, Thanh Sang mê giọng ca Út Trà Ôn và thường bắt chước ca theo. Khi theo nghề, lối ca Thanh Sang bị ảnh hưởng nhiều bởi Út Trà Ôn, từ cách sắp chữ, đưa hơi, nói chung là rất chân phương và hoa lá. Thế nhưng, Thanh Sang được trời phú cho một giọng ca rất riêng, cùng với sự phấn đấu không ngừng, Thanh Sang đă tạo được nét riêng cho ḿnh. Cũng như các nghệ sĩ thành danh thế hệ vàng của sân khấu cải lương, giọng ca của Thanh Sang không nhầm lẫn với ai được, không cần nh́n, chỉ cần nghe cất hơi là người mộ điệu biết ngay đó là Thanh Sang.
Giọng Thanh Sang trầm, buồn man mác, một cái buồn mà người nghe không cảm thấy bị ngột mà là bị lây từ từ, để rồi càng nghe càng thấy thấm, mà thấm từ từ, nói chung là buồn, buồn lắm. Đây là một điểm đáng chú ư nhất trong giọng ca Thanh Sang, mà thiết nghĩ trong giới nam nghệ sĩ, chỉ có Thanh Sang mới được trời phú cho một giọng ca đạt đến “độ sầu” như vậy. Nghe Thanh Sang ca vọng cổ ta dần cảm được cái gọi là “trời sầu đất thảm”.
Nếu nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan được mệnh danh là“Sầu Nữ”, th́ xin tặng cho Thanh Sang hai chữ: “Sầu nam”. Sầu nam ở đây không có nghĩa là Thanh Sang chuyên đóng vai bi, vai sầu, mà là giọng ca của Thanh Sang cũng giống như giọng ca Út Bạch Lan, dù rằng một nam một nữ, nhưng cả hai giọng ca đều có một “ma lực” gieo rắc u sầu để người nghe không sầu theo cũng không được.
Thanh Sang không ca lẻ vọng cổ nhiều, nhưng đă ca th́ ca lấy chắc. Chúng ta chỉ cần nghe lại một số bài cũng đủ thấy được độ sầu của giọng ca Thanh Sang: Mồ em Phượng (Viễn Châu), Nhớ mẹ hiền (Viễn Châu), Người đánh đàn trên bắc Mỹ Thuận (Viễn Châu).
Năm 2001, Thanh Sang bị bệnh nặng tưởng không qua khỏi, sau đó phải vắng bóng trên sân khấu sáu bảy năm trời. Đến năm 2007, được bạn bè và đồng nghiệp cổ vũ, giúp đỡ, Thanh Sang đă tổ chức live show mang tên: “Năm mươi năm một t́nh yêu nghệ thuật” tại Nhà hát lớn thành phố Hồ Chí Minh, do Cải lương chi bảo Bạch Tuyết làm đạo diễn. Lần “tái xuất giang hồ này” của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn càng khẳng định tính nghiêm túc trong nghề nghiệp của Thanh Sang. Được biết, khi ấy dù mọi người lo lắng sức khỏe không cho phép ông hát được trọn vẹn trên sân khấu, nhưng ông kiên quyết không hát nhép, và tuyên bố ca trực tiếp th́ dù có chết trên sân khấu cũng được.
Ôi đáng kính thay một tấm ḷng v́ nghệ thuật! Nếu tất cả nghệ sĩ đều có một tấm ḷng như thế th́ cải lương chắc hẳn sẽ không bị cho là khủng hoảng như bây giờ, bởi như không ít người thường nói, không phải khán giả bỏ cải lương, mà có nhiều nghệ sĩ đang bỏ và đang giết lần ṃn cải lương vậy.


RFI


TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa
__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
  #106  
Cũ 02-23-2013, 08:07 PM
việtdươngnhân việtdươngnhân is offline
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,933
Thanks: 4,498
Được cảm ơn 1,991 lần trong 1,002 bài
Default Út Bạch Lan - Hà Bửu Tân bất tử với "Xuân đất khách"

Út Bạch Lan - Hà Bửu Tân bất tử với "Xuân đất khách"


Thứ bảy 23 Tháng Hai 2013
Nghe (19:30)



Tuấn Thảo RFI

Dù mê hay không mê tài tử cải lương, th́ người Việt xa quê vẫn ấm ḷng khi được nghe mấy câu vọng cổ. Cứ vào dịp Tết nguyên đán, th́ nhu cầu được sưởi ấm bằng điệu vọng cổ du dương của bà con lại trỗi dậy. Trong cái không khí ngày Tết ấy, bài được thích nhất có lẽ là bài “Xuân Đất Khách”, một bài ca hoài niệm cố hương, không ướt át bi lụy mà đủ đưa con tim người nghe vào trời thương biển nhớ.





Ngoài nghiệp cầm viết, ông c̣n đeo mang cái nghiệp cầm đàn. Nếu trong nghề soạn giả ông được tôn xưng là “Vua”, th́ trong nghề đàn, dân mê cổ nhạc ai mà không biết đến danh cầm Bảy Bá với tuyệt cú đàn tranh độc nhất vô nhị, ngón đàn đă đưa ông vào danh sách “Tam hùng” trong làng đàn cổ nhạc cùng với hai danh cầm Văn Vĩ và Năm Cơ.

Tản mạn về tác giả bài Xuân đất khách

Tay đàn thật ra là một thế mạnh đưa Viễn Châu đến sự thành công trong soạn lời vọng cổ, bởi v́ một trong những con ách chủ bài giúp những bài vọng cổ của ông được đông đảo giới mộ điệu yêu mến, đó chính là sự đơn giản trong lời ca và sự “vào khuôn” trong cách đặt câu sắp chữ. Lời văn trong bài vọng cổ của Viễn Châu thường nằm gọn trong khuôn, với cách bố trí âm bằng trắc rất phù hợp tạo sự dễ dàng cho người ca, giúp người ca có thể tựa vào đó để nhảy múa trên dây đàn.

Không chỉ có thế, Viễn Châu c̣n là bậc thầy “đo ni đóng giày” bởi ông tùy theo giọng ca và cách ca của từng nghệ sĩ mà đặt lời văn phù hợp, giúp cho người ca có thể phát huy được thế mạnh của ḿnh để chinh phục khán giả. Bởi vậy mà, hễ bài ca ông soạn riêng cho một nghệ sĩ ca, th́ nghệ sĩ khác dù cũng thuộc hàng cây đa cây đề, cũng không thể hiện được bài đó hay bằng người mà bài ca của Viễn Châu nhắm đến.

Bài ca theo kiểu đo ni đóng giày của Viễn Châu đă đưa không biết bao nhiêu nghệ sĩ trở nên nổi tiếng. Điểm lại những nghệ sĩ bậc nhất của thế hệ vàng, thử hỏi có mấy ai “thoát khỏi tay” của Viễn Châu: Út Trà Ôn-T́nh Anh Bán Chiếu, Út Bạch Lan-Lan và Điệp, Diệu Hiền-Tần Quỳnh Khóc Bạn, Lệ Thủy-Cô gái bán sầu riêng, Mỹ Châu-Ḥn Vọng Phu, Minh Cảnh-Tu là cội phúc, Thanh Sang-Người đánh đàn trên Bắc Mỹ Thuận, Minh Vương-Ḷng dạ đàn bà ….

Vừa rồi, các nghệ sĩ từng được bài ca Viễn Châu chấp cánh đă cùng nhau tổ chức một đêm cổ nhạc tại quê hương Trà Vinh của ông. Trên sân khấu bé nhỏ ngoài trời đêm ấy đă xuất hiện hầu như tất cả những nghệ sĩ bậc nhất của thế hệ vàng và những nghệ sĩ hàng đầu trong các thế hệ kế cận.

Có người hỏi vui : Mời một lần mà nhiều nghệ sĩ gạo cội như thế th́ chắc phải bán ba cái chung cư mới đủ trả tiền thù lao ? Thế nhưng, tất cả những nghệ sĩ này đều t́nh nguyện tham gia hát không nhận thù lao, bởi v́ họ hát cho chính người thầy thân yêu của họ. Chỉ nói cái công Viễn Châu chấp cánh cho những nghệ sĩ này thôi th́ cải lương biết lấy ǵ đền ơn ông cho vừa, cho đủ !

Xuân đất khách, một tuyệt phẩm của Viễn Châu

Nếu phải xếp hạng trong gia tài hơn 2000 bài vọng cổ của Viễn Châu, th́ Xuân đất khách quả thật phải được lọt vào « tốp ten ». C̣n nếu nói về những bài vọng cổ viết về tâm sự người xa xứ, th́ Xuân đất khách của Viễn Châu phải được xếp số 1, về tính văn học và tính súc tích của lời ca, về sức hấp dẫn đối với người nghe và về sức sống của nó trong thời đại.

Chúng ta biết rằng một trong những nét đặc trưng trong phong cách Viễn Châu đó là ca từ của ông rất vô khuôn và rất dễ nhớ. Bài Xuân đất khách đă thể hiện được nét đặc trưng này. Chính cũng v́ thế mà những người dạy và người học ca vọng cổ thường chọn sử dụng bài của ông. Xuân đất khách cũng vậy, đây là một bài hát có ca từ đẹp mà lại c̣n dễ cho người ca trong cách sắp chữ, nên người ca và người nghe đều có thể thể hiện và theo dơi dễ dàng.

Ở đây có một điểm đáng chú ư, đó là : Vọng cổ là tự sự, tức một bài vọng cổ phải có cốt truyện rơ ràng, người nghệ sĩ thể hiện bài ca tức là đang kể lại cho người nghe một câu chuyện ǵ đó, bởi vậy mà người ca cũng dễ nhớ và người nghe cũng dễ theo dơi, không bị lan man.

Bài Xuân đất khách dù có chủ đề rơ ràng là thể hiện nỗi nhớ quê hương, nhưng nó lại không hề theo tŕnh tự của một câu chuyện cụ thể, tức không có thứ tự t́nh tiết câu chuyện, mà chỉ là sự thố lộ tâm t́nh của người nhớ quê hương, tức là người ca khó mà dựa vào một lô gích ǵ đó để nhớ bài ca, c̣n người nghe th́ cũng không thể bám vào thứ tự các t́nh tiết cốt truyện để theo dơi. Thế mà lạ thay, Xuân đất khách lại có lời văn rất dễ nhớ, người ca rất dễ thuộc, người nghe rất dễ theo dơi ! Đó chính là cái thần t́nh của Viễn Châu.

Cũng đúng thôi, v́ ông không dựa vào cái lô gích kể chuyện chung chung mà là vào “lô gích” t́nh cảm, mà « lô gích » t́nh cảm th́ lại không có lô gích. Nói cách khác Viễn Châu đă đứng trong cái t́nh cảm chung nhất của người Việt xa quê để viết Xuân đất khách bằng việc gợi lên những sự vật mà khi c̣n sống ở quê hương th́ người ta thường thấy nó b́nh thường, c̣n khi xa xứ th́ bỗng nhiên thấy nhớ thương da diết, như h́nh ảnh của những dưa hấu G̣ Công, bưởi Biên Ḥa, rượu bà Điểm, cành mai nở ngày Tết …

Một bí quyết cho sự thành công của Viễn Châu như ông đă thú nhận, đó là khi viết mỗi bài hát ông đều cố gắng hóa thân thành nhân vật trong bài hát đó. Và như vậy th́ Viễn Châu đă hóa thân thật sự thành công trong bài Xuân đất khách ! Một bí quyết mà theo ông th́ « chả có ǵ là bí quyết », nhưng không phải soạn giả nào làm cũng được.

Xuân đất khách là một bài vọng cổ rất ăn khách, nhất là đối với nghệ sĩ lưu diễn ở nước ngoài mỗi dịp tết Nguyên Đán. Nội dung bài ca này không quá bi ai mà chỉ là nỗi ḷng nhớ quê hương da diết, lời văn bài ca gợi nhớ đến những điều gần gũi thân thương nơi quê cha đất tổ, lại không có mang yếu tố tôn giáo hay chính trị, bởi vậy ai nghe cũng được, nghe xong rồi thích, thích xong rồi nhớ, nhớ xong rồi lại tự ca trong ḷng mỗi lúc xuân về.

Ca không phải để làm cho ngày xuân trở nên buồn bă, mà là để nhớ đến những ǵ thân thương mộc mạc nơi chôn nhau cắt rốn, để lắng đọng tâm tư sau một năm bôn ba làm lụng, để tạm gát lại mọi bồn bề của của sống mà nhớ về cội nguồn gốc rễ, bởi: “Cây có gốc mới nở cành xanh cội, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu”.

Sầu nữ Út Bạch Lan “sầu” cùng Xuân đất khách

Út Bạch Lan được xem là người thể hiện thành công nhất bài Xuân đất khách. Út Bạch Lan được mệnh danh là “Nữ vương sầu nữ”, và đến giờ này chưa ai thay thế cái vương hiệu đó của cô. Vào những thập niên thập niên 1950-1960, Út Bạch Lan và Thanh Hương hợp cùng với đàn anh Út Trà Ôn đă trở thành những giọng ca vàng ăn khách nhất trên đĩa hát. Út Bạch Lan là người có số lượng vai diễn và bài ca đóng cặp với Út Trà Ôn trên các hăng đĩa nhiều nhất của thế kỷ trước.

C̣n nếu như phải bầu chọn cho những cặp đào kép thành công nhất, th́ có lẽ xếp hàng đầu không thể nào thiếu được cặp đào kép Út Trà Ôn-Út Bạch Lan. Chưa hết, Út Bạch Lan được xem là người đă cùng với Út Trà Ôn mở đường đưa bản vọng cổ nhịp 32 lên tới đỉnh cao trong hệ thống bài bản cải lương.

Bàn về chất giọng, ta thấy Út Bạch Lan có chất giọng kim pha thổ (kim nhiều thổ ít) nên giọng trong trẻo, lảnh lót có pha chút trầm buồn. Cô đă biết khai thác triệt để thế mạnh này để đạt đến danh hiệu “Nữ vương sầu nữ”. Thế nhưng, chỉ có giọng ca thôi c̣n chưa đủ để đạt đến vương hiệu đó, bởi ngoài giọng ca thiên phú th́ kỹ thuật ca của Út Bạch Lan cũng thuộc hàng thượng thừa.

Bộ nhịp của cô th́ khỏi chê. Cách hành văn sắp chữ của cô rất điêu luyện. Cô ca luyến láy một cách thần t́nh : luyến láy đúng nơi đúng chỗ và vừa đủ, không bị thô, luyến láy theo kiểu « đứt dây đờn ». Cách điều hơi của Út Bạch Lan cũng đáng nể : Nghe Út Bạch Lan ca, ta không thấy cô phải ráng hơi, cô ca như nói, ca rất tự nhiên. Đặc biệt Út Bạch Lan có cách nhấn dấu sắc lửng rất hay, vút lên rồi nhẹ nhàng rơi rơi một các lả lướt.

Tuy nhiên nét đặc trưng nhất của Út Bạch Lan mà đến giờ này chưa thấy có ai ca giống và ca hay như vậy, đó là cách cô xuống xề ở câu 5 và câu 6 rất thấp, rất trầm, cô phát huy hết chất đồng trong giọng ca của ḿnh và cô đă tạo ra cách xuống xề hay đến mức mà người nghe chữ cô xuống xề như ḥa tan vào tiếng đàn, như biến mất trong chữ xề của cung đàn, nói chung là nghe là biết ngay đó là cách xuống xề thần sầu của Út Bạch Lan.

Những năm gần đây, Út Bạch Lan có nhận một đệ tử chân truyền đó là nghệ sĩ Phương Hồng Thủy. Và đến hiện tại, có thể nói lối ca của Phương Hồng Thủy đă bị ảnh hưởng rất nhiều từ thầy ḿnh, nhất là lối xuống xề nói trên.

Nói về bài Xuân đất khách, th́ những cái ǵ đặt trưng nhất trong giọng ca Út Bạch Lan đă được cô gói gọn trong bài ca này: độ sầu đến « quỷ khốc thần sầu », độ mùi đến mùi mẫn, lối ca điêu luyện, cách hành văn sắp chữ độc đáo, lối xuống xề tuyệt cú mèo. Có thể nói rằng, nghe Út Bạch Lan ca Xuân đất khách, người xa quê không thể nào cầm được nước mắt mà chỉ muốn mọc ngay đôi cánh để bay về với quê hương, c̣n người trong nước mà nghe cô hát bài này th́ ắt hẳn bắt đầu lo sợ cái cảnh làm thân xa xứ.

Xuân đất khách là một bài hát hay, nên có rất nhiều nữ nghệ sĩ bậc nhất của thế hệ vàng thể hiện, nhưng để đạt được độ mùi như Út Bạch Lan th́ quả thật là chưa có ai. Bài Xuân đất khách, có thể nói rằng, đó là một trong những minh chứng cho ‘‘sự trị v́” của Út Bạch Lan trong vương quốc “Sầu nữ” của sân khấu cải lương. Hà Bửu Tân, tên tuổi bất tử cùng Xuân đất khách.

Nh́n sang phía nam nghệ sĩ, ta thấy cũng có không ít người thể hiện bài Xuân đất khách. Thế nhưng, công tâm mà nói th́ đến giờ phút này, người thể hiện thành công nhất có lẽ là cố nghệ sĩ Hà Bửu Tân. Đây là một nghệ sĩ khá đặt biệt của sân khấu cải lương, đặc biệt không chỉ v́ tài ca vọng cổ mà c̣n v́ số phận “tài hoa yểu mệnh” của anh.

Khán giả ngày nay ít ai c̣n nhớ đến Hà Bửu Tân bởi anh đă giả biệt thế gian vào những năm 1970, ở cái tuổi ngoài hai mươi, vào lúc mà giọng ca và tài năng của anh đang hồi sung măn nhất. Làn hơi của Hà Bửu Tân có nội lực rất mạnh, đài từ rơ ràng, ca đúng với chuẩn mực «tṛn vành rơ chữ ». Anh ca không lạng bẻ mà ca rất tự nhiên, rất nhẹ nhàng, khiến người nghe không cảm thấy anh ráng hơi bởi thế cũng cảm thấy nhẹ nhàng.

Đặc biệt hơn hết là cách nhă chữ rất riêng của anh, một cách nhă chữ nói chung là « rất Hà Bửu Tân”. Nếu bên nữ nghệ sĩ, Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga được xem là người có lối nhă chữ sang trọng, th́ bên phía nam nghệ sĩ ta thấy có Hà Bửu Tân. Làn giọng của anh cũng rất sang trọng diễm t́nh. V́ thế, có thể nói, Hà Bửu Tân là nam nghệ sĩ cải lương có giọng ca và lối ca sang trọng và diễm t́nh “xưa nay hiếm”.

Nói về kỹ thuật ca, Hà Bửu Tân được dân trong nghề cho là có bộ nhịp rất vững. Bởi thế anh mặc sức tung hoành trong bài ca với một sự điêu luyện thượng thừa. Ở tuổi của Hà Bửu Tân mà có được bộ nhịp thượng thừa như vậy th́ cũng quả thật là “Xưa nay hiếm”. Đặc biệt là lối sắp chữ của anh, anh sắp chữ trong ḷng câu, và xuống song lang « như để », nghe mà sướng lỗ tai.

Nhịp nhàng điêu luyện, đài từ rơ ràng, giọng ca diễm t́nh và sang trọng… tất cả đă tạo cho sân khấu cải lương một Hà Bửu Tân có một không hai, một Hà Bửu Tân mà người nghe chỉ nghe một lần cũng đă thấy như là « đă mê tự lâu rồi », một giọng ca và một lối ca mang đến cho người nghe cảm giác nhẹ nhàng, êm dịu, cho người nghe được thưởng thức nghệ thuật nhảy múa trên dây đàn của người nghệ sĩ.

Nói về độ mùi, giọng ca Hà Bửu Tân có độ thẩm thấu cao, thể hiện chất mùi của bài hát rất tuyệt, khiến người nghe bị buồn lây hồi nào mà không biết. Tuy nhiên, giọng ca Hà Bửu Tân đầy nam tính và đầy nội lực, trầm buồn nhưng không tạo cảm giác bi lụy. Đó là một lợi thế để anh tạo dấu ấn riêng trong bài Xuân đất khách. Nếu như nghe Út Bạch Lan ca Xuân đất khách mà người nghe phải sa nước mắt và muốn mọc ngay đôi cánh để bay về với quê hương, th́ khi nghe Hà Bửu Tân ca bài này ta sẽ cảm thấy có một nỗi buồn man mác đang len lỏi vào tâm trí, nó không đến độ khiến cho nước mắt phải sa, nhưng đủ để nỗi buồn kia thấm khắp cùng thân thể, giúp tâm trí mọc thêm đôi cánh để bay vào thế giới suy tư và hồi tưởng. Đó là dấu ấn “vô tiền khoán hậu” của Hà Bửu Tân trong bài Xuân đất khách.

Nói đến những điều « xưa nay hiếm » trên, ta lại càng thêm nuối tiếc vô cùng cho sân khấu cải lương Nam bộ, bởi v́ sự ra đi của Hà Bửu Tân thật sự là một mất mát vô cùng to lớn cho sân khấu cải lương, và nhất là cho bài vọng cổ. Hà Bửu Tân mất sớm, nên hiện tại người ta cũng chỉ có thể nghe được giọng ca của anh trong trong vài đĩa cải lương, và hai bài vọng cổ là Xuân đất khách và Hạng Vơ Sở Bá Vương, cả hai bài này đều do soạn giả Viễn Châu sáng tác. Tuy số lượng c̣n sót lại chỉ vỏn vẹn có hai bài vọng cổ như vậy, nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ để Hà Bửu Tân khẳng định được tài năng ca vọng cổ của ḿnh. Đặc biệt là trong bài Xuân đất khách, Hà Bửu Tân đă thể hiện được cái tầm thượng thừa trong ca vọng cổ.

Thời gian thắm thoát trôi qua, cái tên Hà Bửu Tân đă dần phai nhạt trong làng sân khấu cải lương, thế hệ trẻ mê cải lương ngày nay có lẽ cũng chẳng có nhiều người biết đến anh. Thế nhưng, nếu nhắc đến bài Xuân đất khách của soạn giả Viễn Châu, th́ không thể không nhắc đến Hà Bửu Tân bên cánh nam nghệ sĩ, và Út Bạch Lan bên cánh nữ nghệ sĩ. Nói cách khác, Út bạch Lan-Hà Bửu Tân đă trở nên bất tử cùng với bài Xuân đất khách của soạn giả Viễn Châu.

Khi Hà Bửu Tân chập những đi hát hồi đầu những năm 1970, th́ Út Bạch Lan khi ấy đă tiếng tăm lừng lẫy. Thế nhưng, giữa bậc tiền bối Út Bạch Lan và người hậu bối Hà Bửu Tân đă cùng để đời với bài Xuân đất khách. V́ sao thế ? Câu trả lời có thể là : cả hai có những nét chung đưa đến sự thành công trong nghệ thuật ca vọng cổ. Những nét chung đó chính là : cả hai đều có giọng ca thiên phú rất mượt mà, cả hai đều là bậc thầy trong cách sắp chữ trong ḷng bản, cả hai đều có nhịp nhàng điêu luyện, và đặc biệt là cả hai có một lối ca “hoa lá cành” trong cái chuẩn mực “chân phương hoa lá” của bài vọng cổ.

Nói cách khác, Út Bạch Lan và Hà Bửu Tân đều ca lă lướt, lối luyến láy thần sầu, thế nhưng, họ lả lướt mà không quá điệu đà, luyến láy mà không quá trớn, tức là luyến láy vừa đủ để thể hiện bài ca chứ không phải để khoe giọng, để khoe tài năng hay để khẳng định đẳng cấp. Bên cạnh đó, Út Bạch Lan và Hà Bửu Tân lại ca rất “chân phương”, tức là ca như nói, có sao ca vậy, không bao giờ tạo ra cảm giác bị ráng hơi, hoặc chẳng khi nào cố t́nh lên gân khoe giọng.

Với tất cả những điều trên, ta có thể khẳng định rằng, “chân phương hoa lá” vẫn là « cái chuẩn rất chuẩn » của bài vọng cổ. Nói « chân phương hoa lá » chỉ có hai vế bốn từ, nhưng để thể hiện được một trong hai vế bốn từ đó cho đúng, cho đủ, th́ quả là không phải chuyện dễ dàng. Và Út Bạch Lan và Hà Bửu Tân đă thể hiện được tất cả những điều « không phải chuyện dễ dàng » đó trong bài Xuân đất khách.

TỪ KHÓA : Âm nhạc - Tạp chí - Văn hóa

__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản c̣n thống trị trên quê hương - Ta c̣n phải đấu tranh"
Reply With Quote
Trả lời

Tools
Display Modes

Điều lệ Đăng Bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies are Mở
[IMG] code is Mở
HTML code is Tắt

Forum Jump


Tất cả thời gian được căn cứ theo giờ Quốc Tế GMT. Giờ địa phương của bạn là 06:51 PM.


Nội dung và bản quyền của những bài viết trên trang Web này thuộc về tác giả hoặc Cơ sở quảng cáo. TheGioiNguoiViet.Net không chịu trách nhiệm về nội dung của bài viết, của những bài góp ư và của những quảng cáo. Chúng tôi giành quyền loại bỏ những bài không phù hợp với chủ trương của Diễn Đàn.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2013, Jelsoft Enterprises Ltd.