TGNV TheGioiNguoiViet.Net

 

 

Diễn Đàn Tổng Hợp Thông Tin, Nghị Luận Thời Sự, Văn Học, Khoa Học, Tôn Giáo, Lịch Sử, Văn Nghệ Giải Trí

    Nhac Đấu Tranh   Nhac Quê Hương   Nhac Lính   Nhac T́nh   Nhac Ḥa Tấu    Cải Lương, Tân Cổ    Ngâm Thơ    Truyện   

                         

Trở lại   Diễn đàn Thế Giới Người Việt > 04. Câu Lạc Bộ Thơ, Truyện, Tiểu Thuyết > Thư viện Truyện Ngắn
T́m Kiếm Bài mới hôm nay Đánh dấu Diễn Đàn đă đọc

tgnv

Pḥng Games Online

Creative

Ủng hộ Diễn Đàn

Thế Giới Người Việt

Chuyện Phải Nói

Đề Tài Nổi Bật

Chuyện con số 3 và dự báo CSVN sẽ sụp đổ

Việt Nam sẽ thay đổi mầu cờ và chế độ vào năm 2014 do dân lật đổ

'Bố già' Kiên đă bị bắt

Dương Chí Dũng đă bị bắt

Trầm Bê xin được quản thúc

Chủ tịch Eximbank sắp bị bắt

Đ̣n phản công của 3 Dũng: Không nhả vị trí Trưởng Ban chống tham nhũng

Đánh án Kiên “bạc” chỉ là một phần của chuyên án chính trị bảo vệ chế độ

Âm mưu ám sát Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang đang khẩn trương

Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu nhập cuộc. Chủ tịch Tập đoàn Masan bị bắt

Hồ Hùng Anh đă bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm

Tài Sản Khổng Lồ Của Cha Con Nguyễn Tấn Dũng

Ba Dũng đă chuyển 4 tỉ đô qua Đan Mạch

Từ bầu Kiên tới trùm Năm Cam

Thống đốc Nguyễn Văn B́nh?

Đảng CSVN thực chất đă tự tiêu vong

Đảng CSVN sắp tháo chạy...

Việt Nam tự ch́m dần trong quỹ đạo Trung Quốc 

Trung Quốc đă chuẩn bị kế hoạch đánh chiếm Biển Đông

Truyền H́nh Trung Quốc công khai kế hoạch đánh chiếm Việt Nam

H́nh Ảnh Quân Đội Trung Cộng tiến về biên giới Trung-Việt (8.2011)

Tại sao Trung Quốc vẫn nằng nặc đ̣i sát nhập VN vào lănh thổ của họ?

Thái Hà: Điểm khởi đầu sự sụp đổ Chế độ CSVN

Trung Quốc ăn thịt người dă man !

 

Pḥng Sinh Hoạt TGNV

Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)

 

Nơi phơi bày những cái rởm của CSVN: Bọn Quan trí thấp khoe thành tích, Một lũ luồn trôn hít với hà... (Chủ Quán: Doremi)

 

Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)

 

Nơi đây là chỗ kén chồng, Chàng nào đến Quán, nhớ gồng ḿnh nghen ! (Chủ Quán: Năm Trầu)

 

Nơi giới thiệu những bản nhạc hay và cũng là nơi bạn có thể yêu cầu những bản nhạc bạn muốn nghe (Chủ quán: Camly)

 

Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam

 

Nơi trao đổi những thông tin liên quan đến Thị trường Tài Chánh, Chứng Khoán, Vàng Bạc... tại Việt Nam và trên toàn Thế giới (Dr_Tran phụ trách)

 

Pḥng Audio TGNV

Nhac Đấu Tranh

Nhac Quê Hương  

Nhac Lính  

Nhac T́nh  

Nhac Ḥa Tấu   

Cải Lương, Tân Cổ 

Nghe Ngâm Thơ   

Nghe Truyện

Trả lời
 
Tools Display Modes
  #1  
Cũ 06-23-2011, 11:12 AM
KienHoa KienHoa is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 8,618
Thanks: 883
Được cảm ơn 1,443 lần trong 1,123 bài
Default Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh Tuy sách vở không kê khai rơ ràng nhưng có thể nói rằng nước ta vốn có nhiều nghề.
Đời Lư, có thợ bách tác (làm trăm thứ). Thời Pháp có trường dạy bách nghệ ( trăm nghề). Ngày nay có 3 trường đại học bách khoa (dạy trăm môn). Có hàng trăm nghề khác nhau. Cửa hàng bách hoá bán cả trăm thứ. Khó mà biết, mà đếm hết được các nghề của ta.
Người xưa trọng nghề v́ nghề nuôi sống được thợ.
Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
Có nghề là đời sống được đảm bảo. Tay nghề giỏi là thân được sướng.
Như vậy là ta cũng nghĩ rằng không có nghề nào xấu ( il n'y a pas de sot métier) như người Pháp à?
Ấy chết ! Pháp là Pháp, ta là ta chứ ! Ta có nhiều " nghề hạ tiện " xấu xa lắm !
Nghề hạ tiện là nghề ǵ ?
" Đó là những nghề làm mất nhân phẩm con người như " bé đi câu, lớn đi hầu, già đi làm khách nợ ", làm nho lại tại các công đường, làm mơ, xướng ca..." (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam, Khai Trí, 1968, tr. 426-430).
Lạ nhỉ ! Nhất sĩ nh́ nông...Nho lại cũng từ sách vở chui ra kiếm ăn sao lại bị coi là làm mất nhân phẩm, ngồi cùng chiếu với mơ ? Một đời làm lại, bại hoại ba đời ! (Tục ngữ)" Nghề làm lại xoay ngọn bút, sửa tờ giấy, ăn không nói có, làm những điều thất đức có hại tới con cháu " (Toan Ánh, sđd).
Người xưa khinh ghét đám nho lại công đường, đám " xui nguyên giục bị ", v́ bọn này sinh sống bằng nghề viết lách giấy tờ kiện tụng.
Vẫn chưa hết. Bên cạnh nghề cao quư, nghề hạ tiện, c̣n một số nghề bị bỏ quên, không có tên trong bảng xếp hạng.
Đứng đầu là nghề... ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp.
Nhầm to rồi ông ơi ! Ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, không phải là nghề!
Không nhầm đâu ông ạ.
Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm (Ca dao)
Rơ ràng ăn trộm là một nghề đă được các cụ công nhận đàng hoàng. Ông vẫn chưa tin à ? Theo ông, làm quan có phải là một nghề không ?
Nhất định rồi ! Làm quan là nghề vinh hiển nhất của sĩ !
Nếu vậy th́ nhất định ăn trộm, ăn cướp cũng là một nghề ! Con ơi, mẹ bảo con này
Cướp đêm là trộm, cướp ngày là quan(Ca dao)Quan làm ca một, trộm làm ca ba, cùng sở đấy ông ạ.
Thời phong kiến ngày xưa, làm quan chỉ dành riêng cho các ông.
Trải qua mấy cuộc bể dâu. Ngày nay có cả quan đàn bà.
Văn chương gọi mấy ông, mấy bà quan tân thời có tật hay cầm nhầm, ăn cắp, ăn trộm của công là biển thủ công quỹ. Ăn cướp của dân được thuật ngữ chính trị gọi là tiêu cực.
Toàn là người có nghề, thạo nghề cả đấy chứ.
Sông có nguồn, nghề có tổ sư.
Sách vở không cho biết tổ sư của nghề ăn cắp, ăn trộm tại nước ta là ai ?
Có thể đoán ṃ là anh chàng Trọng Thuỷ, chồng cô Mị Châu.
Truyện kể rằng :
" Thời xửa thời xưa, An Dương Vương xây thành Cổ Loa gặp nhiều khó khăn, được thần Kim Quy (Rùa Vàng) giúp đỡ. Xây xong thành, thần c̣n tặng nhà vua một móng chân làm kỉ niệm, dặn rằng lúc cần th́ đem ra mà dùng.
An Dương Vương sai người lấy móng rùa làm lẫy, lắp được một chiếc nỏ thần để pḥng vệ thành Cổ Loa.
Triệu Đà đem quân sang xâm lược nước ta. An Dương Vương đứng trên thành dùng nỏ thần bắn bắn xối xả, giặc chết như rạ. Triệu Đà thua to.
Biết là dùng quân sự không xong, Triệu Đà ghé tai con trai là Trọng Thuỷ th́ thầm... như vầy, như vầy.
Trọng Thuỷ gật đầu lia liạ.
Triệu Đà sửa soạn phong b́ đi gặp An Dương Vương. Đề nghị anh cho thằng nhỏ Trọng Thuỷ nhà tôi được vinh dự nâng khăn móc túi cho con Mị Châu nhà anh.
Cuộc gặp gỡ thương thuyết đạt thắng lợi to lớn.
Mị Châu được tấm chồng ngoại kiều. An Dương Vương được thằng rể để sai vặt. Trọng Thuỷ vừa được cơm no ḅ cưỡi, vừa được xuất ngoại. Triệu Đà vừa đỡ một miệng ăn vừa gài được thằng con trong ḷng địch.
Trọng Thuỷ lên xe ngựa về nhà vợ.
Men t́nh ngào ngạt, lai láng gối chăn. Trọng Thuỷ tỉ tê thăm ḍ Mị Châu. Mị Châu đê mê. Có ǵ đem hết ra khoe. Khoe luôn cả bí mật của nỏ thần.
Trọng Thuỷ t́m cách đánh tráo, ăn trộm được lẫy nỏ.
Rồi kiếm cớ trở về quê hương thân thương, thăm gia đ́nh và tham quan.
Muốn biết kết cục của Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương (Tản Đà)ra sao, xin đọc hồi sau sẽ rơ...
Trọng Thuỷ về tới nhà bèn ghé tai cha th́ thầm báo cáo... như thế, như thế.
Triệu Đà cất tiếng cười sang sảng. Lũ chim non ngoài vườn hoảng sợ, vụt bay cao. Ngay hôm sau Triệu Đà chuẩn bị cất quân đánh An Dương Vương.
Trời đất lại một phen nổi cơn gió bụi !
An Dương Vương ung dung xách nỏ thần, leo lên thành, vừa hát vừa bắn.
Bắn hết cả tên mà quân địch vẫn tiếp tục vừa đùa vừa tiến. Than ôi thời oanh liệt nay c̣n đâu (Thế Lữ) ! An Dương Vương quăng nỏ, kéo Mị Châu lên ngựa chạy trốn.
Mị Châu y theo lời dặn của Trọng Thuỷ, rắc lông ngỗng làm dấu, để chồng biết đường đi t́m ḿnh. Cha con Triệu Đà được chỉ đạo, hướng dẫn, vừa cười tủm vừa đuổi theo.
Cùng đường, quay lại th́ thấy con gái đang nối giáo cho giặc, An Dương Vương nổi giận, rít lên một tiếng như ngựa hí, rút gươm chém Mị Châu, rồi tự vẫn.
Trọng Thuỷ thương vợ cũng tự tử chết theo.
Chỉ c̣n Triệu Đà, người (gian) hùng cô đơn.
(Đời sau sao chép, nhầm lẫn " gửi rể kế" của Triệu Đà thành " đào mỏ kế ").
Ngày nay, nước nào cũng mở trường đào tạo ăn cắp, ăn trộm... tài liệu, tin tức.
Học viên tốt nghiệp cấp thấp là chú công an, bác lính kín, cấp cao là tay t́nh báo, tên gián điệp. Chỉ nghe phẩm hàm của các vị tân khoa thôi mà đă rùng ḿnh, nổi da gà.
Người ta đồn rằng cái nghề quốc tế này đă cống hiến nhiều anh hùng vô danh cho lịch sử thế giới. Anh hùng nào háo danh, được thiên hạ biết mặt biết tên trong lúc hành nghề th́ chỉ c̣n nước xin nghỉ phép, sắm vàng hương đi chầu ông bà ông vải là vừa.
Hành nghề song song với bọn ăn cắp, ăn trộm theo bài bản nhà trường, là bọn ăn cướp ồn ào, nhốn nháo. Dọc ngang chả thèm biết trên đầu có ai.
Cướp có nhiều loại, nhiều thứ bậc. Cướp biển, cướp cạn, cướp vặt, cướp chính quyền, cướp hợp pháp và cướp phạm pháp v.v.. Riêng cướp biển, xưa kia nước Pháp phân biệt hai loại.
Bọn thứ nhất là đám " pirates ", cướp biển tư nhân. Đứa th́ chột mắt đứa th́ sứt răng. Phất phơ lá cờ sọ người, lênh đênh kiếm ăn độ nhật. Cướp của giết người không gớm tay...như xi nê ma.
Bọn thứ nh́ là lũ " corsaires ", cướp biển quốc doanh. Bọn này tương đối lành lặn hơn, giết người... âm thầm hơn. Nhiệm vụ của các công nhân viên nhà nước này là đi lùng và cướp các thuyền buôn, mang chiến lợi phẩm về hiến dâng cho thủ trưởng và các quan.
Cướp biển quốc doanh, có biên chế, được vua chúa đặt ra từ thế kỉ 15, đến sau cách mạng 1789 vẫn tiếp tục tồn tại thêm một thời gian dài.
Đại ca Surcouf (1773-1827) danh bất hư truyền, chiến công chói lọi sử vàng, được dựng tượng bên bờ biển Saint Malo, chỉ cách mộ văn hào Chateaubriand vài con sóng vỗ.
Ngoài hai hạng ăn cướp cho ḿnh, ăn cướp cho chính quyền, c̣n có nhiều vị hành nghề... từ thiện, vô vị lợi. Rơi văi chút đỉnh thôi.
Tiêu biểu là hiệp sĩ Robin des Bois với lời hịch " Lấy của người giàu chia cho người nghèo ". Anh hùng hảo hán bốn phương hưởng ứng, tụ về núi rừng cùng nhau mưu đại sự.
Tiếc rằng đời sau, con cháu các vị dần dần hủ hóa, biến chất. Học hành chưa xong, bằng giả đút túi, rủ nhau lập băng đảng, hạ sơn kiếm chác.
" Lấy của người giàu ", kể cả người giàu làm ăn lương thiện, hợp pháp.
" Chia cho người nghèo ", chia cho cả bọn làm thuê gánh mướn, chuyên..." gánh tiền đi rửa sông Ngô ". Đám nghèo rớt mồng tơi, cần tiền để nộp cho...trường công, nhà thương thí...há hốc mồm đứng xem chia chác.
Hậu sinh khả uư ! " Cướp lung tung, chia bừa băi ". Chả khác ǵ đám giặc cỏ.
Các cụ ơi, con cháu đang bêu riếu các cụ như thế đấy. Lỗi các cụ đă đẻ ra chúng nó. Các cụ có linh thiêng th́ bóp cổ chúng nó cho làng xóm được nhờ.
Cướp biển, cướp cạn, cướp ngày, cướp đêm, ngày nay vẫn c̣n. Lúc ẩn lúc hiện.
Triều đ́nh, chính quyền quyết tâm tuyển người đi đánh dẹp. Quan chức được tuyển mộ, khoác quần áo mới, trang bị máy móc tối tân. Các quan tung hoành lập công. Cướp được của cướp nhiều của nổi của ch́m. Lấy lại được nhiều tiền...Tiền hô hậu ủng ! Tiền đồ nhá nhem !
Dẹp cướp thật là phức tạp, khó khăn. Mất mạng như chơi.
Trên trướng gấm có hay chăng nhẽ ? (Chinh phụ ngâm).
Giết người đi th́ ta ở với ai ? (Phạm Duy).
Hết cướp th́ lính dẹp cướp cũng hết đất sống. Chi bằng lập tổ đổi công, dựa vào nhau mà sống. Cung cầu của kinh tế thị trường là như vậy, phải không ?
Ông tổ của nghề ăn trộm bên Tàu là chú Chích đời Xuân Thu. Chú xuất sắc lắm, được người đời tấn phong là giáo chủ của " đạo chích ". Đạo (ăn trộm) dễ tu, tín đồ hành đạo khắp năm châu, bất kể ngày đêm.
Giang hồ kiếm khách trước khi được kết nạp vào đạo, phải cam kết tôn trọng lời thề " thà đói chứ không ăn bẩn ". Thế mà vẫn c̣n nhan nhản những thằng đốn mạt " ăn cướp cơm chim ". Loanh quanh phường xóm.
Sau nghề đặc biệt của các ông là nghề cũng không kém đặc biệt của các chị em.
Nghề " bán trôn nuôi miệng ", màu mè gọi là nghề mại dâm.
Theo truyền thuyết th́ mại dâm là nghề xưa nhất của loài người.
Số đông các ông tán thành, ủng hộ nghề này. Nhưng trước mặt vợ, trước đám đông, ông nào cũng lải nhải chửi bới, lên án nó. Cứ như là tự ḿnh xỉ vả chính ḿnh vậy.
Phải chờ đến tận cuối thế kỉ 20 cái nghề làm ăn trong bóng tối này mới được một số nước công nhận. Chị em được chính thức hành nghề giữa ánh sáng chói loà.
Liên doanh, hợp tác, làm ăn to th́ tủ kính đèn màu, hàng chưng lồ lộ. Em ngồi trong quầy, tủ
Anh phố cũ lang thang
Nh́n nhau thèm, chẳng nói...Làm ăn cá thể tuy thu nhập thất thường, nhưng được tự do hơn. Giỏi xoay xở th́ cũng đủ tiền son phấn, ma tuư lai rai. Có bằng khen, danh hiệu như (cựu) Miss France th́ phất như diều gặp gió. Khéo ăn khéo nói th́ chờ thời vận, ra tranh ghế... đại biểu quốc hội Ư!
Chị em làm ăn có khai báo, đóng thuế lợi tức hàng năm. Nhà nước che mặt, chấm mút mồ hôi của giai cấp lao động. Bù lại, nhà nước có bổn phận chăm sóc sức khoẻ cho mấy " con gà đẻ trứng vàng ". Bọn ma cô, bố già bố trẻ của xă hội đen, xă hội đỏ, chuyên sống lén lút bằng cách bóc lột chị em đến tận da tận thịt, bị đặt ra ngoài ṿng pháp luật, bị truy nă không ngừng.
Chị em ư thức được vai tṛ, vị trí xă hội của ḿnh, thỏ thẻ hô hào đấu tranh.
Bầu người lănh đạo. Lập nghiệp đoàn. Họp báo. Biểu t́nh. Tranh luận công khai.
Mỗi lần lên truyền h́nh, ai cũng phải công nhận điểm mạnh, điểm thu hút của chị em ăn sương là... ăn ảnh. Mặt hoa da phấn, trông dễ thương hơn các ông các bà làm chính trị một trời một vực. Chao ôi ! Sao mà quyến rũ thế!
Thương mại bước vào thời ḱ toàn cầu hoá !
Hàng hoá Đông Âu đổ sang Tây Âu. Chị em được giải phóng, ồ ạt chạy sang miền đất hứa hành nghề.
Nhiều khu trù mật, kinh tế mới mọc lên.
Phố xá thay da đổi thịt, nhộn nhịp sầm uất.
Con trai con gái choai choai nửa đêm thức giấc, ngứa ngáy. Các ông đổi mới, thích đi dạo nửa khuya. Các bà lo ngại, đi mách cảnh sát.
Chính quyền bắt buộc phải can thiệp. Nhưng can thiệp bằng cách nào ? Hành nghề hợp pháp cơ mà. Cấm chỗ này, chợ người chuyển sang chỗ khác.
Nước Pháp không có dầu lửa nhưng có nhiều ư hay !
Trị bịnh phải trị tận gốc ! Cứ nhè đầu các ông đi bắt ḅ lạc mà phạt. Không có lửa sao có khói ! Các ông bị một vố đau hơn hoạn nhưng vẫn chứng nào tật ấy.
Từ xưa đến nay, nước ta luôn luôn nhân danh đạo lí, trừng trị thẳng tay, hay nói một cách dễ hiểu hơn là quyết tâm xoá bỏ cái nghề đồi phong bại tục này !
Khắp nơi rầm rộ... Khốn nỗi...
Bộ binh, bộ hộ, bộ h́nh
Ba bộ đồng t́nh bóp vú con tôi(Ca dao)
Đứng trước cái lả lơi dịu mềm kia chả ai cứng rắn măi được. Rốt cuộc, những ông được giao trách nhiệm ông nào cũng mệt phờ râu, chả c̣n đầu óc đâu để xoá với bỏ cái nghề đồi bại kia.
Từ ngày con người có mặt trên trái đất, tại miền Đông Á, các thế hệ đàn anh đàn chị không ngừng đúc kết kinh nghiệm truyền lại cho đàn em. Này, con thuộc lấy làm ḷng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề... (Kiều)." Bảy chữ, tám nghề " là một bộ kinh, có thể đă được soạn trước cả Ngũ kinh của Nho giáo. Một pho sách dạy nghề, hướng nghiệp, được biên tập công phu như những bài mẫu luận văn tốt nghiệp đại học.
" Bảy chữ, tám nghề " là của quư, đáng được nhét vào chỗ kín trong mọi tủ sách gia đ́nh.
" Bảy chữ " là bảy mẹo quyến rũ khách làng chơi, gồm có : khấp (khóc), tiễn (cắt tóc), thích (xâm tên), thiêu (đốt hương thề), giá (hẹn ḥ), tẩu (đi trốn), tử (doạ chết).
" Tám nghề " là tám cách găi đúng chỗ ngứa của khách hàng, gồm có :
Kích cổ thôi hoa (dùng cho khách nhỏ con), kim liên song toả (khách to béo), đại xiển ḱ cổ (khách nóng tính), mạn đả khinh khao (khách chậm chạp), khẩn thuyên tam trật (khách mới vỡ ḷng), tả tŕ hữu tŕ (khách thạo đời), toả tâm truy hồn (khách si t́nh), nhiếp thần nhiệm toả (khách lạnh lùng).
(Nguyễn Tử Năng, Điển hay tích lạ, Khai Trí, 1974, tr. 43-44).
Không phải là nhà nho th́ khó mà thuộc ḷng được bộ cẩm nang.
Cô Kiều của cụ Nguyễn Du được Tú Bà cho thực tập " bảy chữ, tám nghề ".
Các cô Kiều thời nay năng động hơn, sáng tạo thêm nghề đặc sản thứ chín là " phu thê hợp đồng ". Không giống nhưng cũng không khác hẳn tám nghề kia. Dở dở ương ương.
Đối tượng của " phu thê hợp đồng " là khách bơ vơ, lưu lạc góc bể chân trời. Thả mồi đă lâu mà chả có cá vàng, cá kiểng nào cắn câu.
Khách phải nhờ mấy ông mấy bà chuyên dẫn khách đi chơi t́m cho một bến để thuyền ghé nghỉ. Bên kia trái đất, các cô Kiều tương lai được người môi giới bật đèn xanh, ngồi chờ khách dưới chân cầu mười hai bến nước.
Một sáng đẹp trời, vừng hồng vừa ló, khách nghênh ngang đi chọn mặt gửi vàng.
Đôi bên liếc mắt đưa t́nh. Sấm sét ái t́nh nhằng nhịt, ngoằn ngoèo, rạch nát bầu trời.
Thuận mua vừa bán rồi, đôi ta kí hợp đồng nghe anh. Anh lo cho em thẻ xanh, giấy xanh. Em lo cho anh bếp hồng, ngựa hồng. Ngày nào đủ lông đủ cánh em sẽ giă từ anh.
Kín đáo, thẹn thùng không nói ra th́ cứ tạm ngậm bồ ḥn, chờ ngày mai tươi sáng hơn. Chờ cái ngày t́nh cờ móc được khách khác rủng rỉnh, cao ráo hơn.
Ngày đó nói cho anh biết cũng chưa muộn.
Tương lai bấp bênh. Cười gượng c̣n hơn mếu, phải không anh ? Mong anh thông cảm !
Mọi chuyện cuối cùng rồi cũng đâu vào đấy.
Bái biệt mẹ cha. Xin mẹ cha cầm đỡ chút của làm tin. Từ nay ngh́n trùng xa cách.
Nhưng mấy ai học được chữ ngờ...
Thời đại vệ tinh, di động, chuyện ǵ cũng có thể xảy ra được.
Kể cả chuyện cọc đi t́m trâu, hoa đi t́m bướm.
Ḿnh chờ dịp đi Tây, đi Mĩ, đi Úc...Đi đâu cũng được. Ḿnh sẽ mải vui sơ ư...quên mất ngày về. Ḿnh sẽ...như đă dự tính trước khi lên máy bay. Ḿnh sẽ...
Thân gái dặm trường, lặn lội gió mưa.
Thả một chùm giây câu nơi đất khách quê người, may ra có con cá nào đớp chăng ? Con săn sắt cũng xong, con thia thia cũng tốt. Bắt tạm cho yên bề hộ khẩu. Mai mốt cố chài con sộp, con voi...Đời c̣n dài, mới ngoài hai mươi...
" Phu thê hợp đồng " có thể dùng cho nhiều loại khách. Khách biên đ́nh sang chơi, hay khách sang chơi biên đ́nh vớ được. Không phân biệt...Khỏi cần, khỏi cần, thế nào cũng được.
Đũa lệch, nĩa vênh, ấm sứt ṿi, đĩa hỏng men...Thượng vàng hạ cám. Hàng ǵ chợ trời cũng có. Nhằm dịp khuyến mại, tha hồ lục, chọn, thử.
" Ǵn vàng giữ ngọc " chẳng lẽ lại đến nước này sao, hỡi các cô Kiều ?
(Kiều : tên gọi các cô quyết kiếm chồng...Việt kiều hay ngoại kiều, bằng bất cứ giá nào).

Nguyễn Dư

(Lyon, 3/2005)
Reply With Quote
  #2  
Cũ 02-11-2013, 04:28 AM
KienHoa KienHoa is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 8,618
Thanks: 883
Được cảm ơn 1,443 lần trong 1,123 bài
Default

Bánh chưng, bánh giầy là... bánh ǵ ?
___________ Nguyễn Dư

Truyện Bánh chưng (ngày nay thường gọi là Bánh chưng, bánh giầy) mà hầu hết người Việt đều biết, được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỉ 14). Truyện tóm tắt như sau :


Vua Hùng Vương muốn truyền ngôi. Ngài gọi các con đến, hứa sẽ chọn người nào làm được món ăn ngon để dâng cúng tổ tiên. Các hoàng tử thi nhau t́m kiếm của ngon vật lạ, sơn hào hải vị, để làm món ăn dâng lên vua cha. Lang Liệu nhà nghèo, chưa biết phải xoay xở ra sao th́ một đêm được thần nhân báo mộng, chỉ cho cách làm bánh chưng (h́nh vuông) và bánh giầy (h́nh tṛn).
Đến ḱ hẹn, vua Hùng Vương nếm các món ăn. Ngài khen bánh của Lang Liệu vừa có ư nghĩa tượng trưng cho "trời tṛn đất vuông", vừa có mùi vị thơm ngon, được làm toàn bằng sản vật của đồng quê nước ta.
Lang Liệu được vua cha truyền ngôi.
(Lĩnh Nam chích quái, bản dịch của Lê Hữu Mục, Khai Trí, 1961).
Truyện Bánh chưng giản dị, dễ hiểu. Chỉ có tên bánh mới...hơi khó hiểu. Xin bàn về cái tên Chưng. Luôn tiện bàn cả về tên Giầy.

Bánh chưng
Đại Nam quốc âm tự vị
của Huỳnh Tịnh Của đưa ra 2 cách giải thích :

1- Bánh chưng : bánh gói bằng nếp làm ra h́nh vuông vuông cùng kêu là địa bỉnh, hiểu nghĩa trời tṛn đất vuông, phải chưng hấp theo phép cho nên gọi là bánh chưng.
Giải thích của Huỳnh Tịnh Của không ăn khớp với câu văn của Lĩnh Nam chích quái. Trần Thế Pháp viết : " Chử nhi thục chi. Hiệu viết chưng bính " ( Nấu chín. Đặt tên là bánh chưng). Trần Thế Pháp dùng chữ chử (bộ hoả) nghĩa là nấu, chứ không dùng chữ chưng (chưng hấp, nấu cách thuỷ). Thực tế th́ chưa thấy ai chưng hấp hay nấu cách thuỷ cái bánh chưng vừa được gói xong. Thông thường th́ luộc bánh phải đổ đầy nước, đun sôi rất lâu, suốt cả đêm, bánh mới chín.

2- Bánh chưn
: bánh vuông dẹp giống cái bàn chưn, thủ nghĩa địa phương, cũng gọi là địa bỉnh.

Chèng đéc ôi. Cḥm xóm ra mà coi nè. Dân Giao Chỉ nào mà bàn chưn lại vuông dẹp như viên gạch Bát Tràng vậy?
Mới nghe tưởng là một câu nói đùa. Nhưng Huỳnh Tịnh Củacó nhắc đến địa bỉnh tức là cái bánh được chưng hấp của ông. Mặc dù ChưngChưn được người miền Nam phát âm giống nhau, nhưng đó không phải là lí do để nh́n cái bánh chưng thấy giống cái bàn chưn... dị dạng.
Cả hai lối giải thích tên bánh chưng của Huỳnh Tịnh Của đều không thỏa đáng.
Tiếng Việt ngày nay có chữ Chưng, nghĩa là " cố ư đưa ra, bày ra cho nhiều người thấy để khoe ". Ngoài ra, tiếng Việt lại c̣n có chữ Trưng, nghĩa là " Để ở vị trí dễ thấy nhất, sao cho càng nhiều người nh́n thấy rơ càng tốt " (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê).
Thật ra th́ Chưng (diện) cũng giống Trưng (bày). Chưng bày hay trưng bày, chưng bằng cấp hay trưng mặt hàng đều là " khoe ", là (phô) trương cả. Chữ Hán (bộ sách) c̣n có từ Chưng (Thiều Chửu), hay Trưng (Đào Duy Anh) có nhiều nghĩa nhưng tất cả đều không dùng cho tên bánh được.
Tóm lại, Chưng hay Trưng, Hán hay Việt, đều không giải thích được cái tên bánh.
Nếu vậy th́ Chưng là... chữ nôm chăng?
Tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895), Génibrel (1898), Gustave Hue (1937) có từ Chuông (nôm) nghĩa là : bốn phía vuông vức bằng nhau, carré. Chuông biền sắc cạnh nghĩa là : cả biền cạnh đều vuông tượng sắc sảo (thường nói về đồ mộc), qui a la forme d'un carré parfait. Một chuông nhiễu là một thước nhiễu đo vuông, un mètre carré.
Truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự ( 1743-1790) có câu :
Lễ hôn chuông chắn mọi đường
Quế càng hương chắp gấm càng hoa thêm
Chuông chắn nghĩa là vuông vắn, đầy đủ (Vương Lộc, Từ điển từ cổ, Đà Nẵng, 2002). Việt Namtự điển của hội Khai Trí Tiến Đức (1931) cho rằng Chuông là do Vuông đọc trạnh ra, dùng để nói về cách đo vải lụa (Một chuông lụa, một chuông vải). Tự điển Việt-Pháp của Đào Đăng Vỹ (Khai Trí, 1964) có Chuông vải (carré d�étoffe), giấy chuông (papier carré). Từ điển Việt-Hán, Hán-Việt của Phạm Cần (Thanh Hoá, 1998) cũng có Chuông vải (phương phiến đích bố).
Mấy dẫn chứng trên đây xác nhận sự hiện hữu của từ cổ chuông. Tuy nhiên, sau Hoa Tiên độ một hai chục năm, truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) lại nói :
Vội về thêm lấy của nhà
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông
Đầu thế kỉ 19, Chuông đă được vuông thay thế hay là người đời sau đă sửa thơ của Nguyễn Du, đổi chuông thành vuông ? (Tiếng Việt ngày nay có nhiều từ kép cho thấy dường như có sự chuyển biến ngữ âm (ch > v) : chơi vơi, chênh vênh, chạy vạy, chon von, chót vót, chạng vạng v.v.).
Trở lại truyện Bánh chưng. Chúng ta có thể suy đoán rằng Trần Thế Pháp đă dùng chữ Chưng (Hán) để ghi âm chữ Chuông (nôm) : " Hiệu viết chuông bính " (đặt tên là bánh chuông). Bánh chuông là bánh h́nh vuông, tượng trưng cho đất.
Người đời sau quen đọc theo chữ Hán cái tên bánh của Lang Liệu. V́ vậy mà bánh chuông bị nhầm thành bánh chưng.

Bánh giầy
Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 202) gọi thứ bánh làm bằng xôi giă thật mịn, nặn thành h́nh tṛn, dẹt, có khi có nhân đậu xanh, là bánh dầy (pain épais). Hai ông hiểu bánh giầy là bánh có bề dầy (trái với mỏng).
Truyện Bánh chưng của Trần Thế Pháp viết : " Hiệu viết bạc tŕ bính " (đặt tên là bánh bạc tŕ). Bạc (bộ thảo) nghĩa là mỏng, là dẹt, là ngược với... dầy. Tŕ (bộ thủ) nghĩa là cầm, giữ. Bạc tŕ đọc theo chữ Hán không có nghĩa.
Bạc tŕ, cũng như chữ chưng trên kia, phải được đọc nôm.
Bạc đọc nôm theo nghĩa là Dẹt (hay mỏng). Tŕ đọc nôm là Giầy (Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, Bảng tra chữ Nôm của Viện Ngôn Ngữ Học, 1976 ; Cơ sở ngữ văn Hán Nôm của Lê Trí Viễn, 1987 ; v.v.). Bánh bạc tŕ là bánh giầy dẹt (hay mỏng). Giầy rơ ràng không phải là có bề dầy (trái với dẹt, mỏng) như Huard và Durand nghĩ.
Giầy nghĩa là ǵ ?
Bánh giầy đôi khi c̣n được các tác giả phát âm khác nhau, gọi là bánh giày, hay dày, hay dầy. Dầy (dày) dùng để chỉ khoảng cách giữa hai mặt đối nhau. Giầy (giày) là đồ bọc bàn chân, dùng để đi. Bánh giầy h́nh tṛn và dẹt. Nó không dầy như bánh chưng. Nó không giống chiếc giầy (Bánh chưng bánh giầy không phải là... chưn đi giầy).
Giầy chắc chắn phải c̣n nghĩa khác.
Chúng ta hăy tạm cất cái bánh giầy, cùng nhau đi thăm... Phủ Giầy.
Phủ Giầy toạ lạc tại xă Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (ngày nay là xă Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà) , thờ Mẫu Liễu Hạnh.
Phủ Giầy có mấy tấm bia được khắc dựng vào những năm 1921-1925, thời Khải Định. Các bia này chép lại sự tích Mẫu Liễu Hạnh và các tục lệ thờ cúng Mẫu. Tấm bia Cả huyện Vụ Bản tiến cúng tiền ruộng lệ ở Phủ Vân Cát, tục gọi là Phủ Giày, khắc dựng năm 1921, được Hồ Đức Thọ (Lệ làng Việt Nam, Hà Nội, 1999, tr. 179) chú thích : " Vốn chữ ở bia viết chữ giày, nghĩa là dày đặc, dày dạn, ngược với nghĩa chữ mỏng. Song trước các bản dịch có viết chữ dày, là do theo người thời nay sử dụng Quốc ngữ, nguyên trước không viết chữ dày là dày dép này " Rốt cuộc, chữ Hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ, cộng thêm cách phát âm của người viết, đă làm cho 4 từ dày, dầy, giày, giầy trở thành... lộn xộn như lời chú của Hồ Đức Thọ.
Hai tấm bia khác có cụm từ Tiên Hương phủ từVân Cát phủ từ được người dịch dịch là Đền phủ Tiên HươngĐền phủ Vân Cát. Hồ Đức Thọ giải thích rằng Đền phủ Tiên Hương nên được hiểu như chữ Đền Cung Vua tại phường Hồng Hà Cọc 5 Quảng Ninh vậy. Phủ Tiên Hương là từ liền như Cung Vua (sđd, tr. 172).
Ư kiến của Hồ Đức Thọ về cụm từ " phủ từ " và " đền phủ " cần được bàn thêm.
Dưới thời vua Lê chúa Trịnh, việc thờ cúng tổ tiên của vua th́ được tổ chức tại Điện Thái Miếu và Điện Chí Kính trong cung vua. Việc thờ cúng tổ tiên của chúa th́ được tổ chức tại nhà Thái Miếu trong phủ chúa. Ngoài ra, các chúa Trịnh c̣n lập thêm đền thờ bên ngoài phủ chúa để thờ tổ tiên bên ngoại. Các đền thờ bên ngoài phủ chúa được gọi là Phủ từ (được dịch là phủ thờ). (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Sử Học, 1961, tr. 127-138).
Phủ từ là tên gọi các đền thờ tổ tiên bên ngoại của các chúa Trịnh. Nơi thờ cúng của dân gian không phải là phủ từ. Người viết chữ Hán (Tiên Hương phủ từ, Vân Cát phủ từ), đă phạm sai lầm là dùng tên gọi đền thờ của các chúa Trịnh để gọi đền thờ của dân gian. Phủ từ được dịch là Đền phủ (Đền phủ Tiên Hương,Đền phủ Vân Cát), lại dẫn đến một hiểu lầm khác. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam phân biệt đềnphủ :
" Le dên est un temple national ou régional élevé à la mémoire d'un roi, d'un génie ou d'un personnage célèbre, ayant rendu des services aux habitants. Lorsque le génie est féminin, on l'appelle parfois phu ". (Louis Bezacier, L'art vietnamien, Editions de l'Union Française, 1955, tr. 24).
(Đền là nơi thờ phụng do nhà nước hay làng xă dựng lên để thờ một vị vua, một vị thần hay một người có công đức đối với dân chúng. Đền thờ nữ thần đôi khi c̣n được gọi là phủ).
Đền có thể thờ đàn ông hoặc đàn bà (Đền đức thánh Trần, đền Hai Bà). Phủ chỉ thờ đàn bà. Phủ Giầy, Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát ở Nam Định, hay Phủ Tây Hồ ở Hà Nội là đền thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn.
Gọi là Đền Phủ Giầy, Đền phủ Tiên Hương, Đền phủ Vân Cát là thừa chữ đền hay chữ phủ. Gọi là Phủ Tiên Hương hay Đền Tiên Hương đều đúng, nhưng chữ Phủ (đền thờ Mẫu, nữ thần) rơ nghĩa hơn chữ Đền.
Trở lại tên Phủ Giầy. Phủ là đền thờ Mẫu. C̣n Giầy nghĩa là ǵ ?
Theo thần phả th́ Liễu Hạnh vi thiên muội, vi chúng Mẫu, vi tiên phật thần thánh (Bà là em của trời, là mẹ của muôn người, là thánh thần tiên phật). Bà là Thiên tiên Thánh mẫu, một vị tiên trên trời giáng thế. Dân gian tôn bà là Mẫu Thượng Thiên, nôm na là Mẫu Giời (người miền Bắc quen gọi ông trời là ông giời). Giời nói trại thành Giầy (cũng như Mẫu Thủy nói trại thành Mẫu Thoải, cái gầu giây thành gầu giai).
Phủ Giầy là nơi thờ Mẫu Giời.
Ngày kị thánh (Liễu Hạnh) mồng ba tháng ba, lễ có một mâm cơm thịnh soạn, gồm bánh dầy (giầy) 100 phẩm, lợn một con giá chừng 20 quan tiền và hoa quả tuỳ tâm cốt lấy điều thành kính mà thôi (Lệ làng Việt Nam, sđd, tr. 174). Bánh giầy được dùng để cúng Mẫu Giầy tại Phủ Giầy.
Cái bánh h́nh tṛn và dẹt, tượng trưng cho giời, được dân gian gọi là bánh giầy. Giầy là biến âm của Giời.
Bánh chuông (vuông), bánh giời (giầy) đúng và rơ nghĩa hơn Bánh chưng, bánh giầy. Nhưng... ai mà thay đổi được ! To gan như Việt kiều bên Pháp cũng chỉ dám rủ nhau gói " bánh chưng trắng " là cùng. To gan thật. Dám đổi xanh thành trắng. V́ lí do ǵ mà đảo lộn cả truyền thống vậy? Chỉ v́... giấy nhôm rẻ hơn lá chuối, lá dong.
Kinh tế thị trường mà! /Nguyễn Dư (Lyon, 9/2007)
Reply With Quote
  #3  
Cũ 02-12-2013, 05:15 AM
melinh melinh is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 1,678
Thanks: 371
Được cảm ơn 1,768 lần trong 901 bài
Default

Quote:
Bánh giầy
Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 202) gọi thứ bánh làm bằng xôi giă thật mịn, nặn thành h́nh tṛn, dẹt, có khi có nhân đậu xanh, là bánh dầy (pain épais). Hai ông hiểu bánh giầy là bánh có bề dầy (trái với mỏng).

Bánh Dầy (chữ D đúng hơn chữ G) .Tác giả bài này không phải là dân Bắc hay chỉ nghe nói chứ chưa thực sự nh́n và ăn chiếc bánh dầy ra làm sao ?



Bánh dầy gồm 2 miếng bánh bột trắng h́nh tṛn làm bằng bột gạo nếp,dầy khoảng một đốt ngón tay xếp chồng lên nhau, ở giữa kẹp một miếng chả lụa (hay chả quế) cũng phải dầy bằng đốt ngón tay . Bánh dầy ăn ngon ở chỗ dẻo mùi bột, thơm mùi chả nhưng ghét một cái là hay bị dính răng v́ bột bánh .

Tôi chưa từng nghe nói bánh dầy mà có nhân đậu xanh ở giữa bao giờ !
Reply With Quote
  #4  
Cũ 02-12-2013, 06:21 AM
SAO BĂNG SAO BĂNG đă nối mạng
Tướng 1 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Số Bài: 119
Thanks: 459
Được cảm ơn 79 lần trong 51 bài
Default

1/ Bánh dầy kẹp chả quế hay gị lụa .
2/ Bánh dầy nhân đậu xanh mặn , cách làm giống như bánh trôi nước ở miền Nam, nhưng bánh dầy để vậy, không thả vào nước đường .
3/ Bánh dầy nhân đậu dừa ngọt, ở ngoài rắc đậu xanh xay nhuyễn .
4/ Bánh dầy cổ truyền chỉ dùng vào việc tế lễ hay làm phần thưởng cho các lớp thi kinh bổn Công Giáo : Chỉ là nếp nấu dẻo , giă thành bánh dầy , không có thêm ǵ hết .
Reply With Quote
The Following User Says Thank You to SAO BĂNG For This Useful Post:
melinh (02-12-2013)
  #5  
Cũ 02-12-2013, 09:05 AM
melinh melinh is offline
Thống soái
 
Ngày Gia Nhập: Jan 2011
Số Bài: 1,678
Thanks: 371
Được cảm ơn 1,768 lần trong 901 bài
Default

Quote:
Trích dẫn từ bài viết của SAO BĂNG Xem Bài
1/ Bánh dầy kẹp chả quế hay gị lụa .
2/ Bánh dầy nhân đậu xanh mặn , cách làm giống như bánh trôi nước ở miền Nam, nhưng bánh dầy để vậy, không thả vào nước đường .
3/ Bánh dầy nhân đậu dừa ngọt, ở ngoài rắc đậu xanh xay nhuyễn .
4/ Bánh dầy cổ truyền chỉ dùng vào việc tế lễ hay làm phần thưởng cho các lớp thi kinh bổn Công Giáo : Chỉ là nếp nấu dẻo , giă thành bánh dầy , không có thêm ǵ hết .

Loại bánh dầy mặn và ngọt ở phần 2 và 3 tô chữ đỏ trên kia tôi đă ăn qua, nó cũng làm bằng bột nếp, trắng, mềm nhũn, nhưng nó có tên gọi khác chinh xác bơn là bánh bột hay bánh bao bột mặn hay ngọt (chữ bánh bao là của Tầu bị VN hóa). H́nh dáng nhỏ hơn bánh bao, tương đương với loại bánh cam tṛn, trong có nhân đậu xanh ngọt, ngoài rắc mè mà người Tầu gọi là "Chin toi" . Tất cả 3 loại vừa nói : số 2,số 3 và Chin toi đều có bán ở các cửa hàng bánh ngọt của Tầu,hay đi ăn "Tỉm sắm" đều có cả .

Bánh dầy nói đúng nhất và theo nghĩa thông thường của người Bắc ai cũng hiểu là ở phần 1 (hay trong bài của tôi trên kia) .

Thanh ḱu bác SAO .
Reply With Quote
Trả lời

Tools
Display Modes

Điều lệ Đăng Bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies are Mở
[IMG] code is Mở
HTML code is Tắt

Forum Jump


Tất cả thời gian được căn cứ theo giờ Quốc Tế GMT. Giờ địa phương của bạn là 02:03 PM.


Nội dung và bản quyền của những bài viết hay quảng cáo trên trang Web này thuộc về tác giả. TheGioiNguoiViet.Net không chịu trách nhiệm về nội dung của những bài viết, của những bài góp ư hay quảng cáo. Chúng tôi giành quyền loại bỏ những bài không phù hợp với chủ trương của Diễn Đàn.
Powered by vBulletin® Version 3.8.1
Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.